Nhằm giảm phụ thuộc xuất khẩu dầu qua eo biển Hormuz trong tương lai, các nước vùng Vịnh mạnh tay chi tiền xây thêm đường ống, kho dự trữ.
Trong nhiều thập kỷ, bản đồ xuất khẩu năng lượng của vùng Vịnh hội tụ tại điểm nghẽn duy nhất: eo biển Hormuz. Giờ đây, cuộc chiến Iran đã thúc đẩy các nước tìm cách thoát phụ thuộc, bằng cách đổ hàng tỷ USD để xây thêm đường ống, kho lưu trữ và tuyến đường sắt.
"Di sản của cuộc khủng hoảng sẽ dẫn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng để tránh eo biển Hormuz", Hamad Hussain, nhà kinh tế hàng hóa tại công ty nghiên cứu Capital Economics có trụ sở tại London, nhận định.
Tuần trước, nội các Iraq phê duyệt kế hoạch đẩy mạnh xuất khẩu dầu bằng đường ống đi qua khu tự trị Kurdistan đến cảng Ceyhan (Thổ Nhĩ Kỳ). Theo đó, nước này xây thêm đường ống nối Basra với Haditha, dài 700 km, vốn đầu tư 1,5 tỷ USD.
Khi hoàn thành, sản lượng của tuyến Kurdistan - Thổ Nhĩ Kỳ sẽ tăng hơn ba lần, từ 220.000 thùng lên 770.000 thùng mỗi ngày. Song song, Baghdad đang nỗ lực cải tạo một đường ống không còn sử dụng, cho phép bơm dầu trực tiếp đến cảng Ceyhan mà không cần đi qua Kurdistan.
Việc mở rộng mạng lưới đường ống là cấp thiết, khi xuất khẩu dầu của Iraq gần như tắc nghẽn kể từ khi chiến sự Iran bùng phát. Theo số liệu do nước này công bố giữa tháng trước, sản lượng dầu xuất khẩu qua eo biển Hormuz trong tháng 4 chỉ còn 10 triệu thùng, so với mức 93 triệu thùng trước khi xung đột nổ ra.
Mạng lưới đường ống dầu khí Iraq. Trong đó, các đường đứt đậm là kế hoạch xây dựng và nhạt là không sử dụng. Nguồn: S&P
Tương tự Iraq, UAE đang tăng tốc xây dựng tuyến đường ống mới để đưa dầu thô đến Fujairah - thành phố cảng chiến lược nằm ngoài eo biển Hormuz. Hôm 15/5, Thái tử Abu Dhabi Sheikh Khaled bin Mohamed bin Zayed Al Nahyan đã kêu gọi đẩy nhanh tiến độ công trình.
Dự án dự kiến vận hành năm sau, giúp công ty dầu khí quốc doanh Abu Dhabi (ADNOC) tăng gấp đôi năng lực xuất khẩu. "An ninh năng lượng không chỉ còn là việc duy trì sản xuất. Nó liên quan đến các tuyến đường, khả năng tiếp cận, kho chứa và tính dự phòng", ông Al Jaber, Giám đốc điều hành ADNOC, nhận định.
UAE đồng thời củng cố mạng lưới thương mại và dự trữ. Ông Al Jaber cho biết đã đảm bảo nguồn cung bổ sung cho khách hàng châu Á và đang mở rộng kho chứa dầu để đề phòng biến động trong tương lai. Trong khi, Oman tận dụng lợi thế các cảng ở vịnh Oman để tiếp thị năng lực lưu trữ và xuất khẩu dầu.
Ngoài ra, các quốc gia vùng Vịnh cũng đang thảo luận về việc đẩy nhanh dự án đường sắt đã được lên kế hoạch từ lâu. Theo Capital Economics, đây sẽ là phương thức vận chuyển dầu bổ sung, nhưng sản lượng nhỏ hơn đường ống hoặc tàu biển.
Đường ống vận chuyển dầu ở Fujairah, UAE. Ảnh: AFP
Dù vậy, việc thoát phụ thuộc eo biển Hormuz sẽ không dễ dàng vì đây vốn là tuyến đường xuất khẩu kinh tế nhất. Tham vọng này cần thời gian, tiền bạc và ngoại giao xuyên biên giới tế nhị. Ví dụ, tuyến ống của Iraq cần các thỏa thuận với Jordan, Syria hoặc Thổ Nhĩ Kỳ về an ninh, quá cảnh và quyền xuất khẩu.
Xuất khẩu qua đường ống cũng không thể thay thế hoàn toàn được eo biển Hormuz. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), đường ống Đông - Tây của Arab Saudi và tuyến đi đến cảng Fujairah của UAE có tổng công suất khả dụng khoảng 3,5-5,5 triệu thùng mỗi ngày.
Kể từ chiến sự, Arab Saudi tuyên bố tuyến đường ống của họ đang vận chuyển đến 7 triệu thùng mỗi ngày, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với khoảng 20 triệu thùng dầu thô và sản phẩm dầu mỏ từng đi qua eo Hormuz.
Ngoài ra, hạ tầng trên bộ cũng không đảm bảo được an toàn. Đường ống Đông - Tây của Arab Saudi đã bị Iran tấn công vào tháng 4. Tương tự, cảng Fujairah (UAE) từng là mục tiêu của các máy bay không người lái.
Số tàu chở dầu trọng tải lớn (trên 10.000 DWT) qua eo biển Hormuz, tính theo trung bình 7 ngày. Trong đó, đường xanh dương là số tàu đi vào vịnh Ba Tư qua Hormuz, đường xanh lá là số tàu rời vịnh Ba Tư qua Hormuz. Đồ họa: Reuters
Hoạt động vận chuyển qua eo Hormuz hiện vẫn thấp hơn đáng kể so với trước xung đột. Theo dữ liệu của Lloyd's List, lưu lượng tàu thuyền đi qua tuyến hàng hải này đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối tháng 2.
Các tàu mắc kẹt trong Vịnh Ba Tư vẫn đang tiến thoái lưỡng nan. Họ có thể bị lực lượng quân sự Iran tấn công, nếu không được Tehran chấp thuận cho đi qua tuyến hành lang được chỉ định tại Hormuz. Ngược lại, việc hợp tác với nước này nguy cơ dẫn đến rủi ro bị Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt.
Tình thế này cho thấy dù phải tốn nhiều nguồn lực, các nước vùng Vịnh đã nhận ra tầm quan trọng trong việc đầu tư các tuyến đường vận chuyển dầu thay thế. Bởi nó sẽ vô hiệu hóa khả năng eo biển Hormuz bị biến thành vũ khí trong tương lai.
Ông Robin Mills, CEO công ty tư vấn Qamar Energy trụ sở tại Dubai, cho biết khi đã có tuyến đường vòng, mối đe dọa sẽ giảm dần. "Đến một lúc nào đó, việc Iran phong tỏa eo biển dần trở nên vô nghĩa vì nó không còn gây gián đoạn đáng kể nào nữa", ông bình luận.
Bà Cinzia Bianco, chuyên gia tại tổ chức nghiên cứu Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu (ECFR), cho rằng quyết tâm của vùng Vịnh đối với các khoản đầu tư dài hạn nhằm giảm phụ thuộc vào eo biển Hormuz ngày càng mạnh mẽ.
"Khi Arab Saudi và UAE lần đầu đổ tiền vào các tuyến đường ống tránh Hormuz, nhiều người cho rằng đó là những dự án cực kỳ tốn kém và không thực sự cần thiết. Nhưng thực tế giờ cho thấy các khoản đầu tư này rất đáng giá", bà nói.
Phiên An (theo CNBC, WSJ, Reuters)






