Bức thư gửi vào gió
Tháng 7, bên trong quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng ở phường Quảng Phú (thành phố Đà Nẵng), dòng người lặng lẽ chiêm ngắm hàng nghìn kỷ vật của những người vợ, người mẹ đã hiến dâng chồng, con cho Tổ quốc.
Có người dừng thật lâu trước chiếc khăn rằn bạc màu. Có người lặng đi bên tấm huân chương cũ hay cạnh chiếc ống tre, một chiếc hũ sành và 8 trang giấy đã úa màu theo năm tháng.

Lá thư ông Lê Ngọc Lân gửi mẹ đang được trưng bày tại quần thể khu Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng
ẢNH: MẠNH CƯỜNG
"Có những cuộc chia ly chỉ kéo dài vài năm. Nhưng cũng có những cuộc chia ly kéo dài đến 21 năm. Và suốt quãng thời gian ấy, người mẹ vẫn ôm một bức thư của con như ôm chính niềm hy vọng con sẽ trở về...", giọng thuyết minh của chị Trần Thị Cẩm Vân vang lên giữa không gian tĩnh lặng về bức thư cất giữ trong tủ kính.
Ít ai biết, bức thư ấy đã từng trải qua một "hành trình" đặc biệt, từng nằm sâu dưới lòng đất suốt 16 năm. Không hào nhoáng, không cầu kỳ, nhưng đó lại là một trong những kỷ vật khiến nhiều người xúc động nhất.
Câu chuyện bắt đầu từ năm 1954. Theo tư liệu lưu giữ tại tượng đài, chàng thanh niên Lê Ngọc Lân rời quê Tam Thăng (thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cũ - nay thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng) tập kết ra bắc.
Ngày chia tay là mùng 2 tết. Không có những lời dặn dò dài dòng. Người con chỉ kịp nói với mẹ: "Má ở lại mạnh khỏe, con đi đây má ạ!".
Sau này, chính ông Lân viết rằng, đó là khoảnh khắc khiến mình nghẹn ngào đến mức không thể nói thêm điều gì.
Ở miền Bắc, ông tiếp tục học tập, công tác tại Hồng Quảng (Quảng Ninh). Xa quê, xa mẹ, ông đều đặn gửi thư về nhà.

Lá thư dài 8 trang, được chôn cất dưới lòng đất suốt 16 năm
ẢNH: MẠNH CƯỜNG
Lá thứ nhất rồi lá thứ hai gửi về quê nhà, nhưng không một hồi âm. Ông không biết những bức thư đã thất lạc ở đâu. Không biết mẹ có còn bình yên giữa chiến tranh, cũng không biết người thân có còn sống để đọc những dòng chữ của mình.
Thế nhưng ông vẫn viết, có lẽ bởi viết cũng là một cách để được trở về. Trong bức thư thứ 3 dài 8 trang viết năm 1959, ông viết gửi mẹ với những dòng chữ xúc động:
"Hôm nay con biên thư cho má nữa đây – lá thư thứ 3 không biết có đến tay má hay không?. Dù đến hay không, con cứ viết. Viết để gửi vào trang giấy này những nỗi buồn nhớ nhung thèm khát trong mối tình cảm thiêng liêng ấy. Viết để cho gió đưa đi, chim nhắn hộ, để cho âm vang mãi mãi về phương Nam xé tan bầu trời hắc ám và nặng nề ấy đi…".
Đó không chỉ là một lá thư, mà là tiếng gọi vượt qua giới tuyến. Là nỗi nhớ, là niềm tin mong manh, mong phía bên kia người mẹ vẫn còn chờ. Ông Lân hiểu hơn ai hết rằng để đến được tay mẹ, bức thư phải đi qua những vùng đất đầy hiểm nguy.

Trước khi mất, ông Lê Ngọc Lân đã trao tặng kỷ vật cho quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng để nhiều thế hệ cùng được biết đến câu chuyện đặc biệt ấy
ẢNH: MẠNH CƯỜNG
Ông viết: "Bức thư đến được tay má phải qua muôn trùng khổ ải, lên thác xuống ghềnh, bao gian khổ nguy nan nhưng rồi nó sẽ đến và má sẽ quý hơn vàng ngọc khi nhận được nó…".
Có lẽ khi đặt bút viết những dòng ấy, ông không thể hình dung được rằng: hành trình của bức thư còn "dài" hơn suy nghĩ của ông rất nhiều. Bởi khi đến quê nhà, điều chờ đợi nó không phải ngăn tủ hay chiếc hòm gỗ, mà là... bên dưới lòng đất.
16 năm giấu bức thư dưới lòng đất
Ông Lê Văn Thẩn, cháu nội Mẹ Việt Nam anh hùng Trình Thị Quy, vẫn nhớ như in những lần bà nội kể về bức thư.
Ngày nhận được thư, bà Quy vừa mừng vừa khóc. Đó là lần đầu tiên sau nhiều năm bà biết con mình vẫn còn sống. Nhưng niềm vui ấy lập tức ập đến cùng với nỗi lo. Thời điểm đó, nếu chính quyền Sài Gòn phát hiện gia đình cất giữ thư từ miền Bắc gửi về, hậu quả sẽ rất khó lường.

Ống tre và hũ sành, 2 kỷ vật được trao tặng cùng bức thư dài 8 trang
ẢNH: MẠNH CƯỜNG
Bà không dám để thư trong nhà, không dám cho bất kỳ ai biết. Sau nhiều đêm suy nghĩ, người mẹ đưa ra một cách cất giữ rất riêng. Bà cuộn 8 trang giấy, cẩn thận đặt vào một ống tre già rồi bịt kín hai đầu. Chiếc ống tre tiếp tục được cho vào chiếc hũ sành.
Đêm xuống, bà lặng lẽ mang chiếc hũ ra khu vườn phía sau nhà và chôn xuống đất, và chỉ một mình bà biết nơi cất giấu.
Suốt 16 năm sau đó, chiến tranh vẫn cày xới mảnh đất Tam Thăng, bom đạn trút xuống, nhà cửa nhiều lần đổ nát, làng quê tan hoang. Nhưng dưới lòng đất, chiếc hũ sành vẫn nằm nguyên vị trí, âm thầm và lặng lẽ, giống như chính người mẹ ngày ngày chờ con.
"Trong những năm tháng ấy, điều được gìn giữ không chỉ là 8 trang giấy. Đó còn là lời hẹn, là niềm tin và hy vọng mong manh rằng người con sẽ trở về đúng như những gì mình đã viết", ông Thẩn xúc động.
Có lẽ chưa từng có người mẹ nào cất giữ thư con theo cách như thế. 16 năm, chiếc hũ sành trở thành chiếc "két sắt" đặc biệt nhất. Không khóa, không chìa mà chỉ được bảo vệ bằng tình mẫu tử.
Lời hẹn sau 21 năm
Mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất. Sau 21 năm xa quê, ông Lê Ngọc Lân trở về. Cuộc đoàn tụ ngày ấy không chỉ có những giọt nước mắt. Người mẹ lặng lẽ bước ra khu vườn sau nhà, đào chiếc hũ sành lên. Khi mở nắp, chiếc ống tre vẫn còn nguyên, 8 trang giấy vẫn nguyên vẹn.
Mực chưa phai, những dòng chữ viết từ năm 1959 vẫn hiện rõ như mới hôm qua. Trong lá thư năm ấy, ông từng viết một câu rất giản dị: "Người con của má rồi sẽ trở về...".

Bức thư bỏ vào ống tre già rồi tiếp tục bỏ vào hũ sành để chôn dưới đất suốt 16 năm
ẢNH: MẠNH CƯỜNG
Lời hẹn ấy phải mất thêm 16 năm mới trở thành hiện thực. Người con trở về và bức thư cũng trở về với chính người đã viết.
Sau này, gia đình trao tặng kỷ vật cho quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng để nhiều thế hệ cùng được biết đến câu chuyện đặc biệt ấy.
Mỗi lần trở lại nơi đây, ông Lê Văn Thẩn vẫn đứng rất lâu trước chiếc ống tre. Ông nói mình không chỉ nhớ bà nội, mà nhớ cả một thời chiến tranh, khi một lá thư muốn đến tay người thân cũng phải đánh đổi bằng biết bao hiểm nguy.
"Với tôi, bức thư ấy không chỉ là câu chuyện của riêng bác Lê Ngọc Lân. Đó là ký ức của cả một thế hệ", ông Thẩn chia sẻ.
Giữa hàng nghìn hiện vật ở quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng, ống tre, chiếc hũ sành cũ kỹ và 8 trang giấy úa màu không phải là hiện vật lớn nhất, cũng không phải quý giá nhất nếu nhìn bằng giá trị vật chất. Nhưng đó là một trong những kỷ vật giàu sức lay động nhất. Bởi, có một lời hẹn tưởng như rất đỗi bình thường, nhưng phải mất tròn 21 năm mới trở thành hiện thực: "Người con của má rồi sẽ trở về...".
Theo tư liệu tại quần thể khu Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng, ông Lê Ngọc Lân (sinh năm 1932) tham gia cách mạng năm 17 tuổi. Năm 1951, ông được điều về công tác tại Đội Thông tin liên lạc khu 5, đến năm 1954 ông tập kết ra miền Bắc.
Ông vừa tiếp tục học vừa công tác tại Ty Lâm nghiệp Hồng Quảng (Quảng Ninh), sau đó ông được cấp trên cho đi học chuyên ngành lâm nghiệp ở Cộng hòa Dân chủ Đức (từ năm 1961 - 1967).
Năm 1968, ông về nước và nhận nhiệm vụ tại Tổng cục Lâm nghiệp. Năm 1972 ông được điều về làm Giám đốc Lâm trường Đình Lập (Quảng Ninh) cho đến đầu năm 1976 được điều về công tác tại Ty Lâm nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng, đến năm 1987 nghỉ hưu.
Ông sinh sống tại thành phố Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam cũ), qua đời năm 2023.
Gia đình ông Lê Ngọc Lân có truyền thống cách mạng. Em trai ông, Lê Thao, cũng là liệt sĩ.








