Bên trên đường biên ở World Cup 2026

il y a 8 heures 13

Chưa bao giờ số lượng cầu thủ nhập cư ở World Cup cao như năm nay, với gần 23% đại diện cho quốc gia khác nơi họ sinh ra. Và giải đấu ấy diễn ra trên chính vùng đất đang siết chặt chính sách với lưu dân.

Hãy bắt đầu từ một khung thành, trận ra quân giữa Argentina và Algeria, nơi có một chàng trai đeo mặt nạ.

Chàng có cái tên rất nhẹ nhàng: Luca. Song, cái họ lại đầy sức nặng: Zidane.

Thủ môn Luca Zidane ngăn cản Lionel Messi, trong trận Algeria thua Argentian 0-3 ở bảng J World Cup 2026 trên sân Kansas City, Mỹ ngày 16/6/2026. Ảnh: AP

Zinedine "Zizou" Zidane, cha của Luca, là huyền thoại của nước Pháp. Sinh ra tại Pháp, khoác áo Pháp, mang vinh quang về Pháp, một người đã chọn "húc đầu" vào lịch sử của một quốc gia vừa gieo tai ương lại vừa cưu mang dòng họ của ông.

Tổ tiên Zidane từng sống yên bình tại ngôi làng Aguemoune thuộc vùng núi non hiểm trở Kabylia, Algeria từ thế kỷ thứ 7, trước khi người Arab cùng Hồi giáo tới đây. Thập niên 1950, Algeria vùng dậy giành độc lập từ tay Pháp. Chứng kiến những ngôi nhà cháy tàn cháy rụi, những người Kabyle đã lầm lũi tìm đường vượt Địa Trung Hải, mang theo hành lý quen thuộc của mọi di dân: một ngôn ngữ lạ, niềm hy vọng khôn cùng cho tương lai con cháu và một nỗi hoài hương truyền qua nhiều thế hệ.

Trong dòng người lữ thứ ấy, có chàng trai 17 tuổi Smail Zidane. Như một cái cây đột ngột bị bứng khỏi đất mẹ, Smail trải qua thời gian đầu vô cùng chật vật ở nước Pháp. Ông phiêu dạt khắp nơi tìm kế sinh nhai trước khi dừng chân tại Marseille, nơi ông gặp Malika cũng là người Algeria ly hương. Họ yêu nhau rồi dọn vào sống chung tại La Castellane. Đó là khu nhà tập thể được dựng lên cho những người Pháp hồi hương từ cuộc chiến tại Algeria. Chẳng bao lâu sau, khi chiến tranh trở nên khốc liệt trên quy mô rộng, khu nhà này dần đón chính những người Algeria, tiếp theo là dân Morroco, dân châu Phi vùng hạ Sahara, dân Caribe... Những dòng di cư đa chiều cùng tìm cách xây dựng cuộc đời mới dưới một mái nhà.

Hai vợ chồng được số phận se duyên kia lần lượt đón 5 người con: Madjid, Farid, Noureddine, Lila và Zinedine. Cuộc sống trước tiên là chật, khi ăn cơm, không phải ai cũng ngồi xuống được. Sau nữa là vật, vì Malika phải ở nhà quán xuyến bầy trẻ, bảy miệng ăn hoàn toàn phụ thuộc vào đồng lương thủ kho kiêm bảo vệ của Smail. Lớn lên trong một khu phố khét tiếng về tội phạm và ma tuý, để lũ nhỏ có một nếp sống "tạm tươm tất so với mặt bằng chung", ông Smail đã phải trải qua rất nhiều đêm thức trắng.

Đêm 12/7/1998, cả nước Pháp không ngủ khi cậu út nhà Zidane đánh đầu tung lưới Brazil hai lần trong trận chung kết World Cup làm rung chuyển sân Stade de France, Paris. Hàng triệu người đổ về đại lộ Champs-Elysees, mặt Zinedine Zidane được chiếu lên Khải Hoàn Môn cùng dòng chữ "Zizou president". Trong biển người ấy có rất đông CĐV gốc Kabyle, chỉ vắng mặt gia đình Zidane. Vợ chồng Smail ở nhà xem trận đấu cùng các con. Sự cơ cực ngày nào đã lùi xa, nhường chỗ cho những câu chuyện mới sau này.

Zidane (giữa) cùng bố Smail và mẹ Malika về thăm Algeria năm 2006. Ảnh: FR

Và câu chuyện mới nhất của gia tộc Zidane mang tên Luca. Cậu bé hai tháng tuổi ngủ ngoan trong nôi vào cái đêm mà cha cậu được đám đông tôn là biểu tượng quốc gia, của hoà bình và hoà nhập hoàn toàn không biết mình sẽ dành cả tuổi trẻ để thoát ra khỏi cái bóng lớn lao của cha.

Hành trình ấy gian nan cũng không kém câu chuyện ông nội anh vượt biển để tìm miền đất hứa. Từng khoác áo các đội trẻ Pháp, từng ăn tập tại Real Madrid, đi đâu anh cũng bị xem là "con trai của Zizou". Năm 2025, anh rốt cục cũng tìm được bản ngã nhờ thôi chạy về phía trước, mà quay đầu ngược về sau. Anh xin FIFA đổi quốc tịch thể thao để được khoác lên mình màu áo Algeria. "Ông nội muốn tôi tự hào về cội nguồn của mình", Luca nói với kênh chia sẻ với BeIN Sports. Anh tự hào khi từ biệt quê cha để khoác lên mình màu áo đất tổ - trở về một nơi bản thân chưa từng sống.

Trận đầu tiên của World Cup 2026 gặp Argentina, Luca phải mang một chiếc mặt nạ bảo vệ vì chấn thương. Điều này dẫn đến một nghịch lý thật đẹp: khi đeo chiếc mặt nạ ấy lên, anh lại đang tháo bỏ một chiếc mặt nạ khác - mặt nạ "con trai Zizou" - để lần đầu kể câu chuyện của chính mình.

Messi thì không quan tâm đến những câu chuyện. Anh vùi dập Algeria (và Luca) 3-0 bằng một cú hat-trick, trên hành trình trở thành chân sút vĩ đại nhất lịch sử World Cup. Lạnh lùng như cái cách anh và các đồng đội Barca vùi dập Real Madrid 3-0 ngay tại Bernabeu ngày 19/11/2005, trong trận El Clasico đầu tiên của mình. Hôm ấy, Zinedine để lại dấu ấn trên... chân của Messi, với một pha xoạc bóng dẫn đến thẻ vàng. Đó là màn tương tác duy nhất trên sân của hai con người huyền thoại này. Cuối mùa bóng ấy, Zidane giải nghệ, ai cũng biết, với một cú húc đầu vào ngực Marco Materazzi của Italy trong trận chung kết World Cup 2006.

Nhưng Luca thì khác. Anh không chỉ trở về, mà còn có câu chuyện của sự đứng dậy. Ở trận thứ hai gặp Jordan, anh lại phải vào lưới nhặt bóng từ sớm sau một cú sút của Al Rashdan. Sai lầm ấy chực nhấn chìm Luca, người từng thừa nhận phải nhờ đến sự trợ giúp của chuyên gia tâm lý trên hành trình đến với World Cup.

Nhưng, anh đã không gục. Anh ở lại trong khung thành, thực hiện ba pha cứu thua quan trọng. Và phía trên Luca, các đồng đội vùng dậy để thắng ngược 2-1. Sự kiên tâm ấy, có lẽ, là di sản vô hình mà đoàn người rời rặng núi Kabylie đã truyền lại, không qua huyết thống, mà qua những câu chuyện về việc phải băng qua một vùng biển để sống sót.

Luca bắt bóng trong trận Algeria thắng ngược Jordan 2-1 ở vòng bảng World Cup 2026, trên sân San Francisco Bay, Santa Clara, California, Mỹ ngày 22/6/2026. Ảnh: Reuters

Nếu Luca tháo mặt nạ để sống một cuộc đời giản dị của riêng mình, thì một thủ môn khác lại mong người ta tạc tượng. Đó là Eloy Room của Curacao, người bị các cầu thủ Đức dội vào lưới 7 bàn trong trận ra quân thua 1-7. Nhưng trước khi bước vào trận đấu để đời của Room, hãy đến với một con số 7 khác.

Đó là năm 2016, khi quốc gia nhỏ bé Curacao rộ lên một cuộc tranh cãi lớn: tại sao HLV đội tuyển khi ấy là Patrick Kluivert lại gọi về những cầu thủ sinh ra bên ngoài đảo quốc này, làm giảm cơ hội của những cầu thủ "thuần chủng". Không thích biện luận, Kluivert tổ chức một trận đấu giao hữu, một bên gồm những cầu thủ di cư và một bên là những người sinh ra trên đảo. Kết quả là đội "di cư" thắng trận ấy 7-1, và những tranh cãi biến mất như chưa từng tồn tại.

Room là người đứng trong khung thành của đội thắng hôm ấy, một năm sau khi nhận được cuộc điện thoại từ Kluivert, hỏi anh có muốn... dự World Cup hay không. Sinh năm 1989 ở Nijmegen, Hà Lan, Room trưởng thành từ lò Vitesse, từng khoác áo U20 Hà Lan, từng vô địch Hà Lan (với PSV), giành Cup Quốc gia (với Vitesse), và đang nuôi hy vọng được khoác áo đội tuyển nơi anh sinh ra. Nhưng cuộc gọi của Kluivert đã nhắc anh về một quê hương khác của cha ông.

Không ai biết họ nói gì trong cuộc điện thoại ấy. Nhưng tiếng gọi của Kluivert là khởi đầu cho một hành trình vượt thoát của Room. Hành trình ấy đi ngang một con số 7 khác. Tháng 3/2023, Curacao mời được nhà ĐKVĐ thế giới Argentina đá giao hữu. Kết quả là 7-0, nơi Messi lập hat-trick để chạm mốc 100 bàn cho đội bóng xứ Tango. Chính vì cột mốc này mà Messi - một trong những homo sapien (tên khoa học của Loài người) được xin đổi áo nhiều nhất lịch sử - đã chủ động đến xin đổi áo với Room. Room mang về, đóng khung và treo trong phòng khách.

Thủ môn Eloy Room vẫy chào khán giả sau trận Curacao hòa Ecuador ở lượt hai bảng E World Cup 2026 trên sân Kansas City, bang Missouri, Mỹ ngày 20/6/2026. Ảnh: AP

Sau khi World Cup năm nay khép lại, cạnh chiếc áo ấy sẽ là một chiếc áo khác: chiếc áo của chính Room trong trận hoà Ecuador 0-0. Khi Enner Valencia thoát xuống và đối mặt với Room ở đầu trận, mọi người đều nghĩ về một sự sụp đổ, như trận đại bại trước Đức. Không rõ số 7 có nhắc nhở cho Room điều gì đó không, chỉ biết anh đã có 90 phút "lên đồng" trước Ecuador. Anh cản phá cú sút của Valencia và sau đó thêm 15 pha bóng khác nữa. Mặc kệ đối phương sút xa sút gần, vô lê hay đánh đầu, bóng sệt bóng bổng hay bóng bật dội lên, anh cản hết. "No room for goals" (Không có chỗ cho bàn thắng), truyền thông quốc tế đã lan truyền cái tựa này trên mọi mặt trận. Room đã đi vào lịch sử với số pha cứu thua nhiều nhất trong một trận đấu World Cup, từng thuộc về thủ môn Mỹ Tim Howard hồi 2014. Ngày ấy, Howard cần tận 120 phút. Còn Room chỉ có 90 phút.

Sau trận, Room không đổi áo cho ai cả. Anh nói sẽ giữ mãi tấm áo ấy để kể chuyện cho con cháu sau này. Và với màn trình diễn để đời mang về cho Curacao điểm số đầu tiên, Room nói anh xứng đáng được tạc tượng.

Nếu Room được tạc tượng thật, người hâm mộ sẽ nhìn thấy ở đó không chỉ 90 phút phi thường của một cá nhân vào một ngày anh ta là thứ gì đó lớn lao hơn bản thân, mà còn là câu chuyện về một sự trở về. Curacao nói tiếng Papiamento, thứ ngôn ngữ pha trộn của những người bị cưỡng bức di cư qua Đại Tây Dương trong các khoang tàu nô lệ. Mỗi trận đấu của Curacao là kết quả của những dòng người chuyển động: kẻ ra đi vì đói, kẻ bị lôi trong xiềng xích. Bóng đá cho những dòng người vô danh ấy một cái tên, một số áo, và mười sáu khoảnh khắc bay lượn trong khung thành trước hàng vạn khán giả, nơi mỗi người như một ngọn đèn pha, tạo ra một trong những cuộc diễn bày thăng hoa nhất.

Và khi áo Room đặt cạnh áo Messi, người hâm mộ sẽ thấy hai mảnh của một câu chuyện di cư trên một bức tường.

Messi không cần thêm bức tượng nào nữa. Thế giới đã đúc đủ tượng anh rồi, bằng đồng, bằng vàng, bằng sáp hay bằng những tính từ đã mòn vẹt vì lạm dụng. Vậy mà một trong những khoảnh khắc đáng nhớ nhất của Messi lại không phải một bàn thắng, mà là khi anh đá hỏng một quả phạt đền trước Áo. Tình huống ấy nhắc nhở người ta rằng M10 vẫn đang hiện diện giữa nhân gian trong hình hài một con người. Một con người biết yêu (như cách anh nói yêu vợ sau trận), biết buồn biết lo (khóc sau khi ghi bàn vì bố anh, Jorge, đang lâm bệnh nặng), biết mệt (anh nói mình gần như kiệt sức dù không đá hết 90 phút trận gặp Áo) và cũng biết sợ khi đứng trước một quả 11m, nơi mọi "vị thần" bóng đá đều từng ngã quỵ khi trước mắt họ không phải là thiên la địa võng mà chỉ là một khung thành, một thủ môn, một mình, một bóng.

Trên đất Mỹ, một "vị thần" từng rớt từ trên trời xuống chấm 11m. Đó là Roberto Baggio, mang quốc tịch Italy nhưng theo đạo Phật. Trong trận chung kết World Cup 1994, con người có cái đuôi ngựa thần thánh ấy đã thấu triệt lẽ vô thường trong khoảnh khắc quả bóng từ cái chân rất ngoan của anh bay lên trời, một khoảnh khắc ngộ đạo mà nhiều năm sau đó anh đã chọn làm tựa đề của cuốn tự truyện: "Khung thành là bầu trời".

Italy của người đàn ông ấy không hiện diện ở World Cup năm nay. Nhưng dòng máu Italy thì có.

Và nó ở trong người của Messi.

Messi phản ứng sau khi đá hỏng phạt đền trong trận Argentina hòa Áo 0-0 ở lượt hai bảng J World Cup 2026 tại Arlington, Texas ngày 22/6. Ảnh: AP

Năm 1883, tại thị trấn Recanati vùng Marche, Italy, một người đàn ông tên Angelo Messi gói ghém đời mình xuống một con tàu vượt Đại Tây Dương để tới Argentina, như hàng trăm nghìn người Italy nghèo khổ thời ấy. Ông không thể biết rằng dòng người mình hòa vào sẽ kết tinh, hơn một thế kỷ sau, thành cái chân trái tài hoa nhất mà loài người từng chứng kiến. Lionel Messi của Rosario, niềm kiêu hãnh của Argentina, là hậu duệ của một người tị nạn kinh tế. Cái tên "Messi" mà cả thế giới hô vang thực ra là một cái tên Italy, một mảnh Recanati trôi lạc.

Hãy dừng lại ở ý đó. Người vĩ đại nhất của một quốc gia, niềm tự hào tột cùng của lá cờ xanh trắng, lại là sản phẩm của việc một người lạ vượt biên giới, đến một vùng đất không phải của mình, và ở lại. Mọi "bản sắc dân tộc" mà người ta sẵn sàng đổ máu để bảo vệ, nếu lần ngược đủ xa, đều bắt đầu bằng một kẻ di cư mà ai đó từng muốn xua đuổi.

Giải đấu mùa hè 2026 ở Bắc Mỹ, giữa lúc nước Mỹ đang siết chặt vòng vây với người nhập cư, những đợt truy quét, những chuyến bay trục xuất, nỗi sợ len vào từng khu phố của người không giấy tờ. Trong khi đó, ngay trên các sân vận động Mỹ, người ta ước tính cứ 4 cầu thủ dự World Cup thì có một người là di dân hoặc con của di dân: lớn lên ở Marseille, hát quốc ca Algeria; mang họ Italy, khóc dưới lá cờ Argentina; hay sinh ra tại Hà Lan nhưng lại là cháu chắt chút chít của một vùng đảo nhỏ xíu. Cả giải đấu là một đài tưởng niệm sống động cho chính cái hiện tượng mà chính sách đang cố ngăn lại.

Các CĐV nhí vẫy chào cầu thủ trước trận đấu bảng H World Cup 2026 giữa Tây Ban Nha và Arab Saudi tại Atlanta, Mỹ ngày 21/6/2026. Ảnh: AP

Đây là nghịch lý trung tâm của Homo sapiens: tôn thờ những người di cư khi họ đã thành công, và xua đuổi họ khi còn đang trên đường. Người ta dựng tượng Messi nhưng trục xuất những Angelo Messi của hôm nay, những người vô danh mang trong mình thứ tài năng mà có khi một thế kỷ nữa thế giới mới biết tên. Đường biên giới là câu chuyện mạnh nhất mà loài người từng kể, mạnh đến mức người ta quên rằng chính con người đã đặt ra nó, rồi trao cho nó quyền quyết định ai được mơ, ai được ở lại.

Bóng đá không xóa được những vạch ấy. Nhưng trong 90 phút, nó cho ta thấy một thế giới khác có thể trông thế nào: nơi giá trị con người được đo bằng những gì họ làm được, chứ không phải bằng nơi họ tình cờ chào đời, hay tấm hộ chiếu có tấm hình thẻ của họ.

Hãy quay về Recanati, nơi tất cả bắt đầu, để kết thúc. Cũng tại thị trấn nhỏ bé mà Angelo Messi đã rời bỏ ấy, 85 năm trước khi ông ra đi, một cậu bé khác chào đời: nhà thơ Giacomo Leopardi. Bị giam trong sự chật hẹp của quê nhà, khao khát một thế giới rộng lớn hơn ngọn đồi che khuất tầm mắt mình, Leopardi viết nên bài thơ nổi tiếng của thi ca Italy - L'Infinito, Cõi vô cùng. Bài thơ về một con người ngồi sau hàng giậu, tưởng tượng những khoảng không vô tận bên kia tầm mắt, và thấy lòng mình vừa sợ hãi vừa ngọt ngào tan vào cái mênh mông ấy.

Recanati nhìn ra biển, cùng vùng biển mà Angelo Messi đã vượt qua để đi tìm cõi vô cùng của riêng mình, ở bên kia đường chân trời, bên kia hàng giậu của số phận. Leopardi ở lại và mơ về sự vô tận; người đồng hương Angelo thì lên tàu và đi thẳng vào nó. Cả hai đều từ chối để hàng giậu định nghĩa giới hạn đời mình.

Leopardi kết bài thơ bằng những câu này:

Così tra questa immensità s'annega il pensier mio: e il naufragar m'è dolce in questo mare.

(Và giữa cái mênh mông ấy, ý nghĩ tôi chìm đắm; trong vùng biển này, với tôi, biển thật ngọt ngào).

Đắm mình trong biển - il naufragar - chính là từ mà mọi người di cư đều biết, theo nghĩa đẹp nhất và đau nhất của nó. Angelo Messi đã đắm mình trong một đại dương để chắt của ông sau này được cả nhân loại tung hô.

Lionel Messi mừng bàn nâng tỷ số lên 2-0 cho Argentina trong trận thắng Áo ở lượt hai bảng J World Cup 2026 trên sân Dallas ở Arlington, Texas ngày 22/6. Tiền vệ Leandro Paredes kéo áo và ôm chầm lấy đội trưởng khi anh hoàn tất cú đúp, qua đó nâng kỷ lục ghi bàn tại World Cup lên 18. Ảnh: AP

Sử gia Yuval Noah Harari khẳng định: Homo sapiens là một loài di cư. 70.000 năm trước, vài nghìn cá thể rời khỏi châu Phi với hai bàn tay trắng, nhưng mau chóng vươn lên giữ vị trí thống trị nhờ một thứ vũ khí bí mật: khả năng tưởng tượng ra những điều không có thật. Lá cờ, hộ chiếu, bên này và bên kia, thuần chủng và hỗn tạp, thượng đẳng và hạ đẳng, mình và họ... Tất cả đều là những trật tự tưởng tượng, nhưng lại mang sức mạnh huỷ diệt, vì khiến hàng triệu người tin vào chúng.

Đêm Messi đứng trên đỉnh cao lịch sử World Cup, anh không chỉ ghi tên mình vào một kỷ lục. Anh khép lại, và mở ra, một hành trình kéo dài 143 năm, băng qua một đại dương, để chứng minh điều mà có lẽ chỉ bóng đá mới đủ ngây thơ và đủ vĩ đại để chứng minh: Rằng cõi vô cùng không nằm bên này hay bên kia đường biên, nó đứng trên đường biên, nó phủ định đường biên. Không có ta hay mình, bên này bên kia, chỉ có những câu chuyện về tiến lên và trở về, để vượt thoát khỏi số phận và làm nên những gì đẹp đẽ nhất của hai chữ Con người.

H.T.

Lire l'article complet