Các nước thu tiền bản quyền âm nhạc từ quán cà phê, nhà hàng khác Việt Nam ra sao?

il y a 2 heures 3

Không chỉ Việt Nam, các nước Mỹ, Anh hay Singapore đều thu tiền bản quyền âm nhạc với nhà hàng, quán cà phê, nhưng cách tính rất khác nhau.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, quán cà phê và nhà hàng phải trả tiền bản quyền khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc cho mục đích kinh doanh và thương mại. Nhiều chủ quán cho rằng họ đã trả tiền mua đĩa CD hoặc gói thuê bao, nên việc thu thêm tiền là "vô lý".

Tuy nhiên, các chuyên gia trong ngành phân tích bản chất của hai khoản tiền này là trả cho hai quyền khác nhau. Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật - điều ước quốc tế có hơn 180 quốc gia là thành viên, trong đó có Việt Nam - quy định tác giả có toàn quyền cho phép trình diễn công cộng tác phẩm của mình bằng bất kỳ phương tiện hoặc kỹ thuật nào. Trên cơ sở đó, pháp luật của nhiều quốc gia đều bảo hộ quyền của tác giả và chủ sở hữu với việc sử dụng âm nhạc trong hoạt động kinh doanh.

Tại Việt Nam, theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, việc biểu diễn tác phẩm trước công chúng và việc truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác đều là quyền tài sản của chủ sở hữu.

Theo đó, việc sử dụng âm nhạc để nhiều người cùng thưởng thức tại cơ sở kinh doanh (quán cà phê, nhà hàng) thuộc phạm vi quyền tài sản được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, việc mua đĩa CD, đĩa than, USB chứa nhạc hoặc trả phí Spotify, Apple Music, YouTube Music chỉ giúp người dùng có quyền sở hữu bản sao hoặc được nghe nhạc cho mục đích cá nhân. Khi quán cà phê hay nhà hàng phát nhạc để phục vụ khách, chủ cơ sở vẫn phải xin phép và trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu hoặc tổ chức đại diện.

Nhiều nền tảng phát nhạc trực tuyến đều quy định rõ trong điều khoản và điều kiện rằng dịch vụ chỉ được sử dụng cho mục đích cá nhân, phi thương mại. Tài khoản mà người dùng trả phí hằng tháng chỉ cho phép nghe riêng tư, không quảng cáo, tải về để nghe ngoại tuyến hoặc sử dụng thêm các tính năng nâng cao. Các nền tảng đều nêu rõ người dùng không có quyền mở nhạc tại quán cà phê, nhà hàng, cửa hàng, phòng gym, trường học hoặc tại các sự kiện có yếu tố kinh doanh.

Nói cách khác, khoản tiền mua nhạc và khoản tiền bản quyền không phải là "thu hai lần" cho cùng một quyền, mà là chi trả cho hai quyền khai thác khác nhau đối với cùng một tác phẩm âm nhạc. Bảng dưới đây minh họa cụ thể hai quyền của một tác phẩm.

Khoản tiền

Trả cho ai?

Đổi lại được gì?

Tiền mua CD, đĩa than, USB nhạc hoặc thuê bao Spotify, Apple Music, YouTube Music...

Nhà sản xuất đĩa hoặc nền tảng âm nhạc

Quyền nghe cá nhân theo điều kiện sử dụng của sản phẩm hoặc dịch vụ.

Tiền bản quyền khi mở nhạc trong quán cà phê, nhà hàng

Tác giả, nhạc sĩ, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi (thông qua chủ sở hữu hoặc tổ chức đại diện)

Quyền sử dụng âm nhạc trong hoạt động kinh doanh, tức truyền đạt hoặc phát nhạc cho công chúng.

Không chỉ ở Việt Nam, thu tiền bản quyền âm nhạc là thông lệ phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, cách xác định mức thu của Việt Nam khá đặc thù, khi lấy diện tích kinh doanh làm căn cứ chính. Theo quy định của Nghị định 17/2023 và được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 134/2026, tiền bản quyền âm nhạc phải nộp được xác định theo công thức tổng quát sau:

Tiền bản quyền một năm = Mức lương cơ sở × Hệ số điều chỉnh

Trong đó, hệ số điều chỉnh được tính theo phương pháp lũy tiến từng phần dựa trên diện tích thực tế (m2) của cơ sở kinh doanh. Ngoài ra, Việt Nam còn áp dụng mức phí khác nhau tùy theo phân loại đô thị (Hà Nội, TP HCM trả 100%, các đô thị loại thấp hơn được chiết khấu từ 20-90%). Mức trần tiền bản quyền mỗi năm sẽ bằng 8 lần lương cơ sở, tương đương 20,24 triệu đồng.

Hàn Quốc là một trong những nước có cơ chế gần giống Việt Nam khi mức phí đối với quán cà phê và nhà hàng được xác định theo diện tích được cấp phép kinh doanh (licensed business area). Theo biểu phí do Ủy ban Bản quyền Hàn Quốc (KCC) công bố, các hàng quán có diện tích 50 m2 đến dưới 100 m2 sẽ đóng 4.000 won một tháng (khoảng 818.000 đồng một năm); mức phí lớn nhất dành cho cơ sở có diện tích từ 1.000 m2 trở lên là 20.000 won một tháng (gần 4,1 triệu đồng một năm).

Ngoài ra, biểu phí còn quy định khu vực nông thôn được áp dụng mức thấp hơn một bậc và hàng quán dưới 50 m² được miễn nộp. Nước này không quy định mức trần như Việt Nam.

 Phương Anh

Một nhà hàng tại phường Hai Bà Trưng, Hà Nội. Ảnh: Phương Anh

Tuy nhiên, nhiều quốc gia không chọn cách tính dựa trên diện tích. Các nước đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc xác định mức phí bản quyền âm nhạc đối với nhà hàng và quán cà phê. Nhiều quốc gia áp dụng các biến số linh hoạt như sức chứa chỗ ngồi, cấu trúc loa phát hay số ngày hoạt động để tạo ra những công thức "may đo" sát với hiệu suất thương mại thực tế.

Tại Mỹ, điểm đặc biệt là thị trường bản quyền bị phân chia bởi nhiều tổ chức quản lý quyền biểu diễn khác nhau (gọi tắt là các PRO như ASCAP, BMI, SESAC). Điều này khiến các chủ quán thường phải mua đồng thời giấy phép của nhiều bên mới có thể phát nhạc một cách hợp pháp mà không sợ sót bài. Trong khi đó, mỗi PRO lại có một biểu phí và công thức tính tiền bản quyền riêng.

Hiệp hội Nhà soạn nhạc, Tác giả và Nhà xuất bản Mỹ (ASCAP) áp dụng cơ chế cấp phép hằng năm với các nhà hàng và quán cà phê phát nhạc nền. Mức phí được xác định chủ yếu dựa trên sức chứa tối đa của cơ sở (occupancy). Mỗi cơ sở được áp dụng một mức phí trên mỗi khách (rate per occupant) dành cho hình thức phát nhạc ghi âm (recorded background music), sau đó nhân với sức chứa để xác định phí giấy phép hằng năm.

Trường hợp cơ sở không có sức chứa do cơ quan có thẩm quyền xác định, ASCAP hướng dẫn quy đổi từ diện tích mặt bằng theo công thức 1 người cho mỗi 20 feet vuông (khoảng 1 người cho 1,86 m2). Theo đó, quán càng có sức chứa lớn, phí bản quyền phải trả càng cao, nhưng tiêu chí cốt lõi là sức chứa, không phải diện tích.

Tại Anh, thủ tục đã được đơn giản hóa tối đa khi gom tất cả loại bản quyền về một đầu mối duy nhất gọi là giấy phép TheMusicLicence. Biểu phí tiền bản quyền mỗi năm = mức phí cố định theo diện tích quán + tiền tính thêm theo số lượng loa tại cơ sở. Với cơ chế tính này, diện tích quán càng rộng, mức phí cố định càng cao. Cụ thể, mức phí sàn cho một hàng quán quy mô dưới 400 m2 là 195,4 bảng Anh một năm (hơn 6,8 triệu đồng), tăng dần theo các bậc diện tích. Tuy nhiên, đây chưa phải con số cuối cùng.

Giả sử hai quán có cùng diện tích tại Lon Don (Anh), số tiền bản quyền âm nhạc phải trả sẽ khác nhau nếu một quán chỉ treo 2 chiếc loa nhỏ ở góc tường, còn quán kia đầu tư hệ thống âm thanh vòm tới 10 chiếc loa công suất lớn. Ngoài ra, công thức cũng tích hợp mức phạt nặng lên đến 50% nếu phát hiện cơ sở phát nhạc "chui" trước khi đăng ký giấy phép.

 Quỳnh Trần

Một quán cà phê tại phường Gia Định, TP HCM. Ảnh: Quỳnh Trần

Với Singapore, cách xác định phí của Hiệp hội Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc (COMPASS) là ví dụ điển hình cho cơ chế lũy thoái dựa trên số lượng ghế ngồi thực tế. Trái ngược hoàn toàn với việc cào bằng đơn giá, công thức của Singapore được thiết lập theo nguyên lý số lượng ghế của quán càng nhiều, đơn giá bản quyền trên mỗi ghế lại càng giảm dần.

Nếu quán chỉ sử dụng nhạc nền thuần túy, 40 chiếc ghế đầu tiên sẽ bị áp mức phí cao nhất là 8,23 SGD một ghế mỗi năm; 40 chiếc ghế tiếp theo giảm xuống còn 4,70 một ghế mỗi năm và từ chiếc ghế thứ 81 trở đi, đơn giá chỉ còn 2,35 SGD một ghế mỗi năm. Ngoài ra, để tính toán tổng chi phí cuối cùng, Singapore còn áp dụng phép cộng gộp với các khoản phụ thu tính theo kích thước phần cứng, cụ thể là thu thêm khoảng 45,83 SGD cho mỗi inch đường chéo của các màn hình được lắp đặt trong không gian quán. Tiền bản quyền hàng năm phải chịu tối thiểu là 275 SGD (gần 5,6 triệu đồng).

Tại Thái Lan, các bên thu tiền bản quyền âm nhạc cũng rất đa dạng. Một trong các tổ chức quản lý quyền tại Thái Lan là MPC Music, chọn cách tiếp cận dựa trên hiệu suất khai thác chỗ ngồi thực tế. Theo đó, số tiền chủ nhà hàng có phục vụ đồ uống có cồn, bar, pub, lounge... phải trả mỗi năm được quy định bằng các mức khoán cố định theo từng hạng, bắt đầu từ mức sàn thấp nhất là 18.000 THB (khoảng 14,2 triệu đồng) cho quán hạng F (dưới 20 ghế) và chạm mốc trần là 85.500 THB (khoảng 67,6 triệu đồng) cho quán hạng A (201 ghế trở lên).

Tuy nhiên, mức phí tính theo số ghế này mới chỉ là "vé thông hành" cho kho nhạc của MPC Music. Nếu muốn phát thêm các bài hát độc quyền từ các hãng đĩa tư nhân lớn khác, chủ quán bắt buộc chi trả thêm các gói danh mục (catalog) độc lập theo từng năm.

Tất Đạt

Lire l'article complet