Từ nhật ký chiến trường đến chuyện làm thơ của ông Phạm Quang Nghị

il y a 3 heures 13

Cuối tháng 5.2026, nhà thơ Thanh Thảo từ Quảng Ngãi gửi cho tôi mấy cuốn sách Những người đi tới biển & các trường ca khác dày 600 trang, gồm 15 trường ca viết trong gần nửa thế kỷ qua vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành.

Thanh Thảo nhờ tôi mang một cuốn có chữ ký của ông sang tặng người bạn thân thiết từ hồi còn ở chiến trường, cùng làm báo, làm công tác binh vận… và suýt mấy lần hy sinh. Đó là ông Phạm Quang Nghị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội.

Tôi mang cuốn sách tới nhà, ông Nghị ra tận cửa đón. Từ ngày nghỉ hưu đến nay, ông đã in hơn chục đầu sách, đáng chú ý có cuốn nhật ký Nơi ấy là chiến trường dày hơn 500 trang, tự truyện Đi tìm một vì sao dày 650 trang và một tập thơ mỏng mang tên Nỗi nhớ vùng ven. Năm 22 tuổi, rời ghế nhà trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, chàng sinh viên Phạm Quang Nghị vào chiến trường B2 Nam bộ và những trang nhật ký đã theo ông trong suốt 5 năm đối mặt với bao nhiêu gian lao, thử thách.

Vẫn phong thái cởi mở, chân thành với giới nhà văn, nhà báo như trước, Phạm Quang Nghị trao đổi với tôi về hơn chục cuốn sách đã xuất bản. Ông cho biết cuốn nhật ký viết về thời gian 5 năm trong chiến tranh là tập hợp từ những cuốn sổ tay ghi chép khi đi dọc Trường Sơn và khắp các chiến trường phía nam. Được sự động viên của 2 bạn văn là nhà thơ Thanh Thảo và nhà văn Nguyễn Thế Khoa, ông cho xuất bản cuốn Nơi ấy là chiến trường với sự đón nhận, chia sẻ của nhiều đồng đội, bạn bè.

Từ nhật ký chiến trường đến chuyện làm thơ của ông Phạm Quang Nghị- Ảnh 1.

Nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và tác phẩm mới in

Ảnh: TGCC

NHỮNG TRANG NHẬT KÝ CÒN DÍNH MÁU

Về cuốn nhật ký, Phạm Quang Nghị cho biết: "Những trang nhật ký được tôi ghi khá đều mỗi ngày trong những khoảnh khắc có phần không bình thường. Có những trang viết dọc đường hành quân. Có những trang viết trong những ngày lặng im tiếng súng. Nhưng có rất nhiều trang được viết giữa những làn đạn sáng lòe trong đêm vụt bay qua nóc hầm hoặc trong lúc cơn sốt rét đang hành hạ bản thân. Và có cả một vài trang bây giờ mở ra xem còn dính máu…".

Trước khi lên đường đi B năm 1971, Phạm Quang Nghị được dự học khóa 4 Hội Nhà văn Việt Nam bồi dưỡng những nhà văn trẻ ra chiến trường với nhiều tên tuổi như: Đỗ Nam Cao, Lê Quang Trang, Nguyễn Bảo, Hà Phương, Lê Điệp, Trần Thị Thắng, Nguyễn Trí Huân, Vũ Thị Hồng, Trần Văn Thành… Họ đã được những cây bút lừng lẫy của nền văn học Việt Nam trực tiếp giảng dạy và phổ biến kinh nghiệm gồm: Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Thu Bồn, Phan Tứ, Bùi Hiển… Sau khóa học, tháng 4.1971, Phạm Quang Nghị cùng 60 học viên lên đường vào chiến trường phía nam.

Từ nhật ký chiến trường đến chuyện làm thơ của ông Phạm Quang Nghị- Ảnh 2.

Tự truyện Đi tìm một vì sao của ông Phạm Quang Nghị

Ảnh: TGCC

Ông kể cho tôi nghe chuyện khi vào đến Đồng Tháp Mười thì gặp nhà thơ Thanh Thảo ở vùng chiến trường đồng bằng khốc liệt với mấy lần suýt hy sinh. Đoàn công tác của 2 ông bị kẹt lại ở một lộ đất trong cuộc đụng độ giữa quân ta và quân lực Sài Gòn trên mảnh đất chiến trường Ấp Bắc nổi danh 10 năm trước đó. 

Kỷ niệm đáng nhớ là 2 ông phải nhịn đói suốt 3 ngày ở ven lộ bốn và sau khi về tới chiến khu, trong bài thơ dài Một người lính nói về thế hệ mình, Thanh Thảo đã viết về Phạm Quang Nghị như sau: "Tôi gặp thằng bạn thân trong một chuyến bất ngờ/đêm Mỹ Long hai đứa nằm lộ đất/trải dưới trời một tấm ni lông nơi khi chiều B52 bừa ba đợt/nơi mấy năm rồi hố bom không đếm hết/nơi tôi chợt niềm mơ giản dị của mình/chừng nào thật hòa bình/ra lộ bốn trải ni lông nằm một đêm cho thỏa thích/thằng bạn tôi đăm đăm/nhìn một ngôi sao mọc trong hố bom nhòe nước/đôi mắt nó lạ lùng mà tôi thấy được/chứa đầy một hố bom và một ngôi sao".

Sau đó, cũng có thể xuất phát từ hình tượng ngôi sao trong hố bom ở bài thơ trên, cuốn tự truyện của Phạm Quang Nghị ra đời với tựa đề Đi tìm một vì sao.

Kỷ niệm chiến trường ngày ấy còn thao thức mãi khi Phạm Quang Nghị kể cho tôi nghe câu chuyện: "Trong một đêm khi chúng tôi chờ trời tối để vượt qua lộ bốn, mấy đêm trước không qua được vì bọn địch phục kích. Đêm ấy có một ông già ở ấp chiến lược gần đấy tên là ông Bảy cầm một chai rượu đế ra cùng với túi ni lông đựng mấy khúc cá nấu chua, rót cho mỗi người một ly rượu nhỏ và nói mấy lời rất xúc động, chúc mấy con lên đường bình an. Ông bảo: "Cho chú em ly rượu uống đi và ăn một miếng cá để lát nữa chạy cho vững chân, tránh bọn địch đuổi bắn, nếu có rủi thì trước khi chết đã được uống rượu của dân". Vậy là đoàn quân băng qua lộ, mỗi người được ông cho một chén rượu nhỏ và một miếng cá. Có anh đi sau tôi định từ chối ly rượu, ông già bảo: "Uống đi, tao chỉ cho chú em một ly thôi, không uống say đâu mà sợ, uống cho mạnh chân mà chạy, rủi có chết thì mày cũng đã được uống rượu rồi, hề hề". Ông còn cho chúng tôi một bao thuốc lá ru-bi và dặn khi vượt qua lộ rồi mới bóc ra hút, chưa qua lộ thì chưa được hút. Tình cảm quân dân trong những năm chiến tranh thật ấm áp xúc động như vậy đấy, sau này tôi có trở về thăm ông già tốt bụng ấy".

BÀI THƠ VỀ MỐI TÌNH LỠ DỞ VÌ CHIẾN TRANH

Đọc cuốn nhật ký chiến trường của Phạm Quang Nghị, tôi thấy có khá nhiều trích đoạn thơ bên cạnh những ghi chép hằng ngày. Khi tôi hỏi về chuyện làm thơ, ông khiêm tốn nói: "Cuốn nhật ký ngày ấy, ngoài những trang viết lại có cả những dòng cảm xúc được viết ra có đôi chút vần điệu chứ không phải chỉ là văn xuôi. Việc ghi lại một cách vội vàng những cảm xúc của mình trong thời kỳ chiến tranh là một việc "mạo hiểm" vì tôi không phải là nhà thơ. Nếu đem so với tất cả những công việc tôi đã làm trong chiến tranh như hành quân, đào hầm, bắn súng, lấy củi, làm lán trại, nấu ăn trong rừng… thì cái việc vụng về nhất của tôi, là làm thơ. Những kỷ niệm chiến trường đã trở thành một phần máu thịt, gắn bó không thể nào quên như: Nhớ vùng ven quay quắt trong lòng/Nơi sinh tử những căn hầm bám trụ/Những hạt gạo chắt chiu nuôi cán bộ/Những con đường thấm máu tháng năm. Nhưng đâu phải nỗi nhớ chung chung mà là nhớ những dòng sông, nhớ cánh đồng, nhớ những người du kích và nhớ em gái nhỏ hát trong tầm pháo giặc: Tiếng hát bay cao dịu trời nắng lửa/Tiếng hát ngọt ngào như những cơn mưa/Tôi bước đi trong hương đồng bát ngát/Rơm mùa vàng lưu luyến bước chân/Đất giải phóng trả ơn người mùa gặt/Và riêng tôi, phần hương sắc của đồng".

Từ nhật ký chiến trường đến chuyện làm thơ của ông Phạm Quang Nghị- Ảnh 3.

Ông Phạm Quang Nghị ký tặng sách cho tác giả bài viết

Ảnh: TGCC

Nhận xét về tập thơ Nỗi nhớ vùng ven của Phạm Quang Nghị, Thanh Thảo nhìn nhận: "Tôi biết bạn tôi trước đây và cả bây giờ đều không chủ tâm để thành một nhà thơ. Nhưng anh đã làm thơ như là để ghi lại những nghĩ suy, cảm xúc của mình. Phạm Quang Nghị cũng không chủ tâm đi chiến trường để ghi nhật ký và làm thơ nhưng anh đã ghi rất nhiều trang nhật ký từ buổi lên Trường Sơn, khi băng qua Đồng Tháp Mười, về bám trụ ở vùng ven lộ bốn Mỹ Tho, rồi về Thanh Điền, Tây Ninh và anh đã ghi chép cho đến ngày giải phóng. Không ai nghĩ những trang viết ấy, sau chiến tranh ngót 50 năm lại trở nên quý giá như thế với chính người viết. Vì nhờ đó, một lần nữa, những người như anh lại được trở về với chính quá khứ của mình, được gặp những con người, những vùng đất mà mình đã trải qua trong những năm tháng chiến tranh vô cùng ác liệt. Những bài thơ của anh xuất phát từ tâm can và rất đỗi chân thật, bình dị. Thơ có biết bao nhiêu đường và mộc mạc, chân thành cũng là một con đường".

Đọc tập thơ của Phạm Quang Nghị, tôi rung động trước mối tình của một người con gái đã dành cho ông qua chiến tranh dù hai người không đến được với nhau vì người trai phải vào chiến trường. Câu chuyện được kể trong bài Chân thật với nhiều hoài niệm: "…Em nhắc lại cái thời chiến tranh/Lửa tình yêu cháy cùng lửa đạn bom ngoài mặt trận/Em nói lửa chiến tranh ngút trời thù hận/Mà sao tắt được anh ơi/Còn ngọn lửa của riêng em/ Cứ cháy suốt cuộc đời/Anh không biết vì sao như thế/Cứ mỗi lần em gặp lại anh/Là em kể chuyện thời chiến tranh/Cùng với bao nỗi đau cay nghiệt/Có phải vì trong chiến tranh con người yêu say nhau mà không hề sợ chết/Hay vì chiến tranh đã làm đứt mối tình/Em nói tình yêu không thể nào đem chia sẻ được/Và không thể dùng khuôn mà đúc những mối tình dù đó là cái khuôn đẹp nhất/Trong tình yêu không ai được quyền thay mặt/Người con gái nào cũng muốn tự mình và một mình giành lấy người yêu/Cuộc đời em đã mất mát rất nhiều/Em đánh mất nhưng không đành chịu mất/Lời em bão giông chân thật/Khi chết rồi em sẽ lấy lại anh".

Đây có lẽ là bài thơ hay nhất của Phạm Quang Nghị với những dòng chân thật mà cháy sáng đến dữ dội trước mối tình dang dở vì chiến tranh của chính ông, cùng nỗi đau tan vỡ, chia ly. Sau ngày hòa bình, trong những lần về thăm quê, ông lại có dịp gặp người con gái năm xưa. Cả hai đều đã có gia đình và họ trân trọng nhau như những người bạn cũ. Và ông rất xúc động trước ánh mắt sâu thẳm của người con gái năm xưa, như luôn ẩn giấu cả một khung trời kỷ niệm và thế là bài Chân thật ra đời. 

Trong trang hồi tưởng về bài thơ này, Phạm Quang Nghị viết: "Trên thế gian này còn gì đẹp hơn, quý giá hơn tình yêu, vậy mà ngày ấy tôi lại tự nguyện chối từ. Chối từ để đón nhận một nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng, cao cả. Tôi lên đường đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, làm tròn bổn phận của một trang nam nhi thời chống Mỹ để mãi mãi sau này tôi không phải hổ thẹn với lương tâm. Tôi đã đánh mất một mối tình thật đẹp. Tôi cũng đã chia tay mẹ, người mà tôi yêu thương nhất trên đời: Nay cả nước lên đường chống Mỹ/Chào mẹ con đi để được làm người".

Lire l'article complet