Nửa thế kỷ trước, cán bộ dân số đi từng ngõ gõ từng nhà để vận động gia đình chỉ sinh một đến hai con, nay Nhà nước khuyến khích vợ chồng sinh con.
Mỗi dịp giỗ chồng, bà Loan, 85 tuổi, ở Bắc Ninh, tất bật từ sáng sớm. Hơn 30 con cháu về kín căn nhà ba gian, người kê bàn, người bày cỗ, tiếng chuyện trò rôm rả cả sân. Nhưng đến giữa bữa, bà chợt nhận ra điều khác lạ.
"Mấy năm trước trẻ con chạy đầy sân, giờ đếm đi đếm lại chỉ có ba đứa", bà nói rồi quay sang hỏi người cháu nội mới cưới: "Bao giờ cho bà bế chắt?". Hai vợ chồng trẻ chỉ cười, nhìn nhau rồi lảng sang chuyện khác.
Bà Loan sinh 8 người con. Thời ấy, ở quê bà, nhà nào cũng đông con. Các gia đình quan niệm "nhiều con nhiều phúc", thêm người là thêm lao động, sau này có người chăm sóc cha mẹ. Cuộc sống khó khăn nhưng hiếm ai nghĩ đến chuyện chỉ sinh một, hai con.
Vài chục năm sau, đến đời các con của bà, chính sách kế hoạch hóa gia đình được triển khai mạnh, hầu hết gia đình dừng lại ở hai con. Khi ấy, sinh ít được xem là cách để thoát nghèo, dành điều kiện tốt hơn cho con cái học hành. "Tôi cũng bảo các con đẻ hai đứa là đủ nuôi", bà Loan nhớ lại.
Đến đời cháu, mọi chuyện đổi khác. Cháu gái lớn của bà hiện đã 35 tuổi, công việc ổn định nhưng chưa muốn kết hôn. Một người cháu khác cưới vợ ba năm mới sinh con đầu lòng. Hỏi "bao giờ sinh đứa thứ hai", vợ chồng đều lắc đầu giải thích: "Lương vợ chồng không thấp nhưng tiền nhà, tiền học, tiền gửi trẻ... rất tốn kém nghĩ đến là ngại".
Trong số hơn chục cháu nội, ngoại của bà Loan, nhiều người nay ngoài 30 tuổi vẫn độc thân. Những người đã lập gia đình phần lớn chỉ sinh một con. Có người bảo muốn tận hưởng cuộc sống, người nói chưa đủ điều kiện, người thì sợ áp lực nuôi dạy con trong bối cảnh chi phí ngày càng tăng. Ba thế hệ, ba quan niệm, ba nỗi lo khác nhau. Sự đổi thay ấy cũng phản chiếu hành trình chuyển biến của dân số Việt Nam, từ kiểm soát mức sinh sang đối mặt với bài toán sinh quá ít và già hóa dân số.
Một em bé chào đời tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Ảnh: Giang Huy
Từ "thoải mái" đẻ đến kế hoạch hóa gia đình
GS.TS. Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân - một chuyên gia kỳ cựu nghiên cứu về dân số, cho hay những năm 1960, một phụ nữ Việt Nam trung bình sinh khoảng 7 con trong suốt cuộc đời sinh sản. Đây là "thời kỳ bùng nổ dân số" Việt Nam.
Thời điểm này, người dân "ra sức đẻ" bởi quan niệm "trời sinh voi sinh cỏ", chưa quan trọng sinh con chất lượng. Do hoàn cảnh chiến tranh, chính sách kế hoạch hóa gia đình chưa mạnh mẽ, người dân không được tuyên truyền, phổ biến tiếp cận biện pháp tránh thai như bao cao su hay đặt vòng.
Tháng 12/1961, nhà nước quyết định "sinh đẻ có hướng dẫn", đánh dấu sự ra đời công tác dân số ở Việt Nam. Giai đoạn 1991-2000 mở ra "trang sử mới" của công tác dân số. Khi đó, hàng nghìn cán bộ dân số kiên trì đến từng hộ gia đình để tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình, phát bao cao su và các phương tiện tránh thai. Đảng viên sinh con thứ ba bị xử lý kỷ luật.
Đến năm 2006, mức sinh giảm xuống còn 2,09 con/phụ nữ, đưa Việt Nam đạt mức sinh thay thế. Kết quả này đến sau nhiều thập kỷ kiên trì thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình, với những chiến dịch truyền thông rộng khắp và khẩu hiệu quen thuộc "dù gái hay trai chỉ hai là đủ".
Từ năm 2018, mức sinh tiếp tục giảm và duy trì dưới mức thay thế. Đến năm 2024, tổng tỷ suất sinh chỉ còn 1,91 con/phụ nữ - mức thấp nhất trong lịch sử Việt Nam.
"Nhìn lại nửa thế kỷ, phụ nữ Việt Nam ngày nay sinh chưa bằng một phần ba số con của thế hệ trước", GS Cử nói.
Quan trọng hơn, sinh con đã chuyển từ một hành vi mang tính bản năng sang một quyết định có tính toán. Người dân không còn sinh nhiều vì tập quán, mà cân nhắc kỹ điều kiện kinh tế, việc làm, nhà ở, chi phí giáo dục, chăm sóc con và chất lượng cuộc sống. Đó là một trong những biến đổi xã hội sâu sắc nhất của Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, theo GS Cử.
Ông Mai Xuân Phương, nguyên Phó vụ trưởng Truyền thông - Giáo dục, Tổng cục Dân số, nay là Cục Dân số, Bộ Y tế, đánh giá những chính sách dân số đã góp phần đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia có mức sinh rất cao trở thành nước duy trì mức sinh thay thế suốt gần hai thập kỷ.
"Nhưng thành công ngày hôm qua lại đặt ra bài toán mới của hôm nay", ông Phương nói.
Hệ quả rõ nhất của mức sinh thấp là số trẻ em sinh ra mỗi năm giảm nhanh. Năm 1989, khi Việt Nam mới có khoảng 64 triệu dân, mỗi năm có trên 1,9 triệu trẻ chào đời. Đến năm 2024, dân số vượt 101 triệu người nhưng số trẻ sinh chỉ còn khoảng 1,3 triệu, giảm hơn 600.000 ca sinh mỗi năm so với 35 năm trước. Nếu xu hướng hiện nay tiếp tục kéo dài, khoảng một thập kỷ tới Việt Nam sẽ đối mặt đồng thời với già hóa dân số, thiếu hụt lao động và áp lực an sinh xã hội ngày càng lớn.
Vợ chồng được quyền tự quyết sinh con
Trong bối cảnh đó, Việt Nam thực hiện hàng loạt chính sách mới nhằm đảo chiều mức sinh. Luật Dân số sửa đổi đánh dấu sự thay đổi mang tính mạnh mẽ khi lần đầu tiên quy định vợ chồng được quyền quyết định thời điểm sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Cùng với đó là nhiều chính sách hỗ trợ mới. Phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, phụ nữ sinh con tại địa phương có mức sinh thấp và phụ nữ thuộc các dân tộc rất ít người sẽ được hỗ trợ khi sinh con. Người mẹ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng, tăng thêm một tháng so với quy định hiện hành; người cha được nghỉ 10 ngày để cùng chăm sóc gia đình.
Các chính sách khen thưởng cũng được triển khai. Nhiều địa phương hỗ trợ một lần 1-5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Một số địa phương áp dụng chính sách khen thưởng cho xã, phường đạt và vượt tỷ lệ 60% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sinh đủ hai con trong 3 năm hoặc 5 năm liên tục.
Những thay đổi của chính sách bước đầu mang lại kết quả tích cực. Từ mức thấp kỷ lục là 1,91 con vào năm 2024, mức sinh trung bình đã tăng nhẹ lên 1,93 con/phụ nữ vào năm 2025. 6 tháng đầu năm 2026, con số này ước tính tăng lên 1,96 con/phụ nữ.
Dù vậy, giới chức đánh giá để đạt được mức sinh thay thế trong thời gian tới là việc "không dễ dàng". Bộ Y tế đang tiếp tục đẩy mạnh các chính sách và truyền thông khuyến sinh.
Bộ Y tế đang đề xuất mở lớp học về hôn nhân và gia đình cho người trẻ sắp kết hôn, biểu dương các cặp vợ chồng sinh đủ hai con tại 10 tỉnh thành có mức sinh thấp. Trước đó, Bộ Y tế đề xuất cho phép địa phương tự quyết mức hỗ trợ tài chính hàng tháng cho trẻ từ khi sinh đến 36 tháng tuổi.
Dự thảo còn tính đến các gói hỗ trợ khác như chi phí ăn trưa cho trẻ mầm non, hỗ trợ bảo hiểm y tế nuôi con...
Học sinh tiểu học ở TP HCM. Ảnh: Hữu Khoa
Tuy vậy, nói như bà Loan, những chính sách khuyến sinh trên vẫn chưa đủ để tạo động lực cho lứa cháu chắt của bà kết hôn và quyết định sinh con. Bà ngồi trước hiên nhà nhìn ba đứa chắt chạy lon ton ngoài sân sau bữa giỗ ông. Tiếng cười trẻ nhỏ khiến căn nhà ba gian rộn rã, nhưng bà Loan hiểu thế hệ con cháu hôm nay có những nỗi lo khác hẳn thời mình. "Tôi chỉ mong chúng có điều kiện thì sinh đủ hai con, để nhà cửa lúc nào cũng có tiếng trẻ nhỏ", bà nói.
Điều bà mong cũng là bài toán mà Việt Nam đang tìm lời giải. Sau hơn nửa thế kỷ chuyển từ kiểm soát mức sinh sang khuyến khích sinh đủ hai con, mục tiêu cuối cùng vẫn không thay đổi, chính là để mỗi gia đình có thể sinh và nuôi dạy những đứa trẻ trong điều kiện tốt nhất. Chỉ khi người trẻ đủ yên tâm về nhà ở, việc làm, chi phí nuôi con và tương lai phía trước, những khoảnh sân như nhà bà Loan mới có thể đông vui trở lại.
Lê Nga








