Trong bối cảnh tại, "Hà Nội đang rung chuyển" và hàng trăm ngàn người rơi vào cảnh sắp mất nhà, mất đất, Thượng Hải là một nguồn cảm hứng của hy vọng

Nguồn hình ảnh, Getty Images/BBC

Chụp lại hình ảnh, "Hà Nội đang rung chuyển" (bên trái) và Thượng Hải (bên phải)

Được đăng 2 phút trước

Thời gian đọc: 21 phút

Nhà của bà Chu Quang Trạch, do cha bà mua vào năm 1925, là căn cuối cùng thuộc diện giải tỏa còn trụ lại ở khu Tân Thiên Địa, Thượng Hải, Trung Quốc.

Thời điểm bắt đầu giải tỏa vào năm 2002, bà Chu, khi ấy đã ngoài tám mươi tuổi, sống cùng con gái và con trai. Cả hai đều đã kết hôn và mỗi người có một con. Sống chung một nhà nhưng họ là đều có hộ khẩu riêng – tức theo quy định sẽ được ba khoản bồi thường riêng biệt.

Tuy nhiên, đây là một trong số những điều mà chính quyền quận không đáp ứng. Quận tìm cách thuyết phục gia đình chấp nhận bồi thường tiền mặt.

Theo Giáo sư Thiệu Cần (trong sách: Thượng Hải biến mất: Tước đoạt nhà cửa và sự phản kháng tại một đại đô thị Trung Quốc, 2013), ban đầu chính quyền quận đề xuất mức 4.600 nhân dân tệ mỗi mét vuông, không đủ để gia đình Chu mua một căn nhà tương đương trong khu trung tâm. Đến năm 2005, với sự tăng giá nhanh chóng, quận đồng ý trả 10.000 nhân dân tệ mỗi mét vuông, nhưng gia đình yêu cầu 50.000 nhân dân tệ, tương đương mức giá thị trường.

Quận từ chối. Gia đình cố thủ.

Sau đó, gia đình cáo buộc đội phá dỡ của Ngũ Tâm Thượng Hải – công ty phá dỡ của quận Lư Loan – sử dụng một loạt "thủ đoạn bất thường, đáng khinh, hèn hạ và bẩn thỉu" để "khủng bố" và "đe dọa" "quyền tài sản và an toàn cá nhân" của họ.

Những cáo buộc này bao gồm lấy cắp cửa sắt trước nhà, đập vỡ cửa sổ, phá hỏng hệ thống thoát nước và nguồn khí đốt của ngôi nhà, tìm cách phóng hỏa mái nhà – điều mà tác giả cho biết là một thủ đoạn phổ biến mà nhiều chính quyền địa phương ở Thượng Hải và các nơi khác ở Trung Quốc thực hiện để ép người dân rời đi. Thậm chí, đội phá dỡ còn biến sân nhà của bà Chu thành nhà vệ sinh.

Đỉnh điểm xung đột diễn ra vào sáng 18/11/2005 khi nhân viên của Ngũ Tâm tới và bắt bà Chu cùng con gái mang đi nhốt trong một tầng hầm. Vài giờ sau, nhà bà bị phá dỡ.

Một cảnh giải toả ở Hà Nội, ảnh chụp ngày 18/5/2026

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Một cảnh giải tỏa ở Hà Nội, ảnh chụp ngày 18/5/2026

Ở thời điểm hiện tại, "Hà Nội đang rung chuyển" và hàng trăm ngàn người rơi vào cảnh sắp mất nhà, mất đất.

"Nhìn Thượng Hải 20 năm trước đi kìa", "Thượng Hải cũng trải qua điều này rồi mới có được ngày hôm này",… trên các trang mạng xã hội gần đây đã xuất hiện nhiều lời kêu gọi người dân có nhà trong diện giải tỏa cần "hy sinh vì lợi ích chung".

Thượng Hải được lấy ví dụ nhiều là vì thành phố này đã trải qua những đợt quy hoạch, giải tỏa quy mô lớn giai đoạn từ thập niên 1990 và kéo dài tới những năm 2020 và hiện là một thành phố hiện đại với quy hoạch ấn tượng.

Tuy nhiên, những diễn ngôn kiểu trên phần lớn đều chỉ nhìn vào kết quả mà không nhìn vào quá trình thực hiện, bao gồm cả những vấn đề và giải pháp của Thượng Hải.

Có thể tạm chia "mô hình Thượng Hải" ra làm hai giai đoạn – trước năm 2011 và từ năm 2011 trở đi.

Năm 2011 là thời điểm Thượng Hải có quy định mới liên quan tới vấn đề giải tỏa, đền bù đất, đặc biệt là quy định người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định.

Quy định này không tự nhiên mà có. Đây là kết quả của hàng loạt vụ biểu tình, phản đối, kiện tụng trong nhiều năm trời, mà câu chuyện của bà Chu nói trên là một ví dụ.

Nhiều chuyên gia đánh giá rằng ở Trung Quốc, tranh chấp đất đai liên quan đến việc thu hồi đất là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra căng thẳng xã hội, làm bùng phát sự phản kháng từ cơ sở và làm suy giảm niềm tin của công chúng đối với chính quyền.

'Đinh tử hộ'

Đầu thập niên 1990, Trung Quốc quyết định tập trung quy hoạch Thượng Hải. Thời điểm đó, hệ thống hạ tầng còn lạc hậu và cảnh quan đô thị xuống cấp – do hoạt động xây dựng đô thị bị đình trệ trong giai đoạn từ những năm 1950 đến những năm 1970 – được đánh giá là không phù hợp với vị thế đầu tàu kinh tế của thành phố.

Kinh tế được đánh giá là động lực chủ yếu của quy hoạch. Hàng loạt dự án được triển khai, nổi bật có thể kể tới khu tài chính Lục Gia Chủy, Đại Cầu Nam Phố.

Sau giai đoạn triển khai chừng mực vào nửa đầu thập niên 1990, tốc độ đã được đẩy lên cao vào nửa sau thập niên 1990. Một trong những trọng tâm quy hoạch thời điểm đó là khu Tân Thiên Địa và Công viên Thái Bình Kiều ở quận Lô Loan.

Hàng ngàn hộ dân đã phải di dời để phục vụ công tác quy hoạch. Tốc độ gấp rút và sự tham gia ngày càng sâu rộng của các doanh nghiệp tư nhân khiến việc tái định cư tại chỗ không khả thi đối với phần lớn cư dân trong diện bị ảnh hưởng. Đa số những người từng sinh sống tại Tân Thiên Địa và Thái Bình Kiều đã bị di dời ra vùng ven thành phố.

Theo nghiên cứu năm 2005 của hai chuyên gia về phát triển đô thị Hà Thâm Tĩnh (Shenjing He) và Ngô Phược Long (Fulong Wu), dù cư dân được bố trí những căn hộ rộng rãi hơn và môi trường sống tốt hơn, nhưng phải đối mặt với nhiều bất tiện do khoảng cách đi lại xa và sự thiếu hụt các tiện ích công cộng. Đà tăng giá bất động sản khiến họ không thể mua nhà ở những khu vực thuận tiện di chuyển vào trung tâm thành phố. Một số người thậm chí phải bỏ việc.

Những khó khăn này cũng khiến nhiều người "cố thủ", không chịu rời đi.

"Đinh tử hộ" – thuật ngữ dùng để chỉ những gia đình vẫn bám trụ trong ngôi nhà của mình giữa đống đổ nát của khu dân cư đã bị phá dỡ xung quanh, giống như một chiếc đinh đóng chặt xuống đất – được sử dụng nhiều trong thời gian này.

Những cuộc đấu tranh kiểu này thường dẫn đến các vụ việc nghiêm trọng, thậm chí gây chết người khi mà người biểu tình sử dụng những biện pháp cực đoan, bao gồm cả việc tự thiêu và đánh đổi mạng sống của chính mình.

Trường hợp bà Chu chính là một "đinh tử hộ".

Theo Hà Thâm Tĩnh và Ngô Phược Long, phương thức quy hoạch của Thượng Hải tập trung vào địa điểm hơn là con người.

"Kết quả là các loại hình bất động sản có giá trị gia tăng cao như chung cư cao cấp, trung tâm thương mại và cao ốc văn phòng đã thay thế những khu dân cư cũ kỹ, xuống cấp. Tuy nhiên, quá trình đó diễn ra với cái giá là các đợt di dời cư dân quy mô lớn và sự tan rã của các cộng đồng dân cư vốn tồn tại từ lâu".

Tân Thiên Địa và Thái Bình Kiều không phải trường hợp cá biệt.

Hai chuyên gia này chỉ ra rằng trong phần lớn các trường hợp giải tỏa, người dân ở những khu vực đô thị Trung Quốc không hề biết gì cho tới khi chính quyền và các nhà phát triển bất động sản quyết định và chính thức công bố. Nhưng ngay cả khi đó, họ cũng không nắm rõ thời điểm mà việc giải tỏa và di dời sẽ bắt đầu.

Khu Tân Thiên Địa hiện thu hút được nhiều khách du lịch, ảnh chụp ngày 29/5/2025

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Khu Tân Thiên Địa hiện thu hút được nhiều khách du lịch, ảnh chụp ngày 29/5/2025

'Xã hội hài hòa'

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa 16 vào năm 2004, Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới thời Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào lần đầu tiên coi việc xây dựng một "xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa" có tầm quan trọng tương đương phát triển kinh tế, chính trị và xã hội.

Đây được đánh giá là cách đảng này phản ứng trước bất bình đẳng xã hội và khoảng cách giàu nghèo – những vấn đề nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến bất ổn xã hội, thậm chí hỗn loạn. Một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo là bất công xã hội, thể hiện qua sự cấu kết giữa doanh nghiệp và quan chức, từ đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mua đất từ nông dân với giá rẻ rồi bán lại với giá cao.

Một bài viết vào tháng 10/2006 trên Asia Times mô tả việc thông đồng này là một trong những "con đường tắt tai tiếng nhất để làm giàu nhanh".

"Các mảnh đất bị thu hồi từ nông dân với mức đền bù tối thiểu rồi sau đó được bán lại với giá cao. Việc thu hồi đất đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng đến mức phần lớn trong gần 90.000 cuộc biểu tình quy mô lớn [mỗi cuộc có hơn 100 người tham gia] vào năm 2004 đều bắt nguồn từ việc thu hồi đất không công bằng."

Theo Hà Thâm Tĩnh và Ngô Phược Long, cư dân khu Tân Thiên Địa được xem là khá may mắn khi nhận mức bồi thường tương đối hợp lý nhờ dự án được chính quyền hậu thuẫn mạnh và diễn ra vào thời điểm giá nhà còn thấp.

"Tuy nhiên, tại các khu vực khác thuộc dự án Thái Bình Kiều, mức bồi thường gần như không tăng đáng kể trong khi giá nhà đất leo thang nhanh chóng. Vì vậy, dù được đền bù, nhiều hộ dân vẫn khó mua được nhà ở phù hợp sau khi bị di dời," nghiên cứu nêu, đồng thời cho biết không có cư dân cũ nào của khu Thái Bình Kiều quay trở lại mua nhà mới tại khu đô thị sau quy hoạch.

Tuy vậy, không phải ai ở Tân Thiên Địa cũng có một kết cục đẹp hay được trải nghiệm sự "hài hòa" mà ông Hồ Cẩm Đào nói tới.

Cuốn sách của bà Thiệu Cần cho biết việc người dân phản kháng đối với các hoạt động cưỡng chế phá dỡ và di dời, cả ở cấp độ cá nhân lẫn tập thể, bắt đầu gia tăng từ giữa thập niên 1990 và chưa chấm dứt (ít nhất cho tới thời điểm cuốn sách được xuất bản vào năm 2013).

Các hành động tập thể đôi khi chỉ liên quan đến vài hộ gia đình, nhưng cũng có khi bao gồm cả một khu phố hoặc nhiều khu dân cư liền kề.

Theo cuốn sách này, trong khi những hộ dân tập thể chống di dời thường chỉ kéo dài từ vài tháng đến vài năm, thì những "đinh tử hộ" đơn lẻ có thể cầm cự hàng chục năm.

"Một số gia đình hài lòng với ngôi nhà và vị trí sinh sống của mình nên không muốn chuyển đi nơi khác. Một số khác cho rằng họ bị chính quyền đối xử bất công ngay từ giai đoạn thương lượng ban đầu nên tiếp tục ở lại như một hành động phản kháng. Tuy nhiên, phần lớn đều hướng tới mục tiêu được đối xử công bằng và nhận mức bồi thường thỏa đáng.

"Nhiều cư dân tiếp tục đấu tranh đòi công lý và bồi thường ngay cả sau khi đã bị cưỡng chế di dời. Một số trở thành những người khiếu kiện lâu năm, thậm chí tham gia vận động thay đổi chính sách. Rất ít người từ bỏ trước khi đạt được mục tiêu của mình," cuốn sách viết.

Vấn đề nằm ở sự bất đối xứng quyền lực giữa một bên là người dân và bên kia là nhà nước cùng với các doanh nghiệp tư nhân tham gia dự án.

Một góc Bắc Bến Thượng Hải đang trong quá trình giải toả, ảnh chụp ngày 19/2/2012

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Một góc Bến Bắc Thượng Hải đang trong quá trình giải tỏa, ảnh chụp ngày 19/2/2012

Năm 2006, một bài viết trên báo Los Angeles Times cho biết vài chục cư dân ở khu vực Bến Thượng Hải đã biểu tình phản đối việc cưỡng chế di dời một người hàng xóm.

"Cướp nhà! Cướp nhà!" đám đông hô lớn.

"Nhìn xem. Các người gọi đây là một xã hội hài hòa à?" một người biểu tình nói với thái độ chế giễu khẩu hiệu "xã hội hài hòa" của ông Hồ Cẩm Đào. Người phụ nữ này lao về phía một đại diện của chủ đầu tư nhưng bị cảnh sát ngăn lại.

Trong khi đó, một người đàn ông bất lực đứng nhìn khi các lao động nhập cư, được khoảng 20 cảnh sát bảo vệ, chất đồ đạc của gia đình ông lên xe tải. Báo này dẫn lời người dân cho biết người đàn ông này đã sống ở đây được 40 năm.

Bài viết khẳng định đây không phải là một sự kiện được tổ chức bài bản, mà là phản ứng bột phát trước một viễn cảnh mà nhiều người dân thành thị lo sợ: một phiên bản đô thị của các vụ tịch thu đất ở nông thôn vốn đã từng gây ra bạo loạn trong giới nông dân Trung Quốc.

Một ngày trước đó, một gia đình ba thế hệ khác rơi vào cảnh tương tự.

"Người chủ gia đình 70 tuổi cho biết khi trở về nhà hôm thứ Tư, ông thấy một thông báo cưỡng chế dán trên cửa. Ngày hôm sau, toàn bộ đồ đạc của gia đình đã bị chuyển đi," tờ báo này viết.

Người này chia sẻ ông và nhiều người nhiều cư dân khác cho biết chủ đầu tư đề nghị khoản bồi thường (khoảng 26 triệu/m²) không đủ để họ mua một căn nhà khác trong cùng khu vực. Trong khi đó, một người sống ở đầu kia con phố cho biết chủ đầu tư đã trả cho ông số tiền cao gấp khoảng ba lần cho căn hộ của mình.

Một luật sư chuyên xử lý các vụ tranh chấp liên quan đến cưỡng chế di dời nhận định mức bồi thường trên là "quá thấp nếu xét đến vị trí khu đất". Ông cũng cho rằng việc chỉ thông báo trước một ngày là "rõ ràng không phù hợp".

Trong nghiên cứu của mình, Hà Thâm Tĩnh và Ngô Phược Long cho biết vào thập niên 2000, những mâu thuẫn phát sinh từ quá trình di dời cư dân đã thu hút sự chú ý của cả chính quyền trung ương lẫn địa phương.

Một số biện pháp đã được đưa ra nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân bị giải tỏa, chẳng hạn như cấm sử dụng bạo lực trong quá trình cưỡng chế giải tỏa hoặc áp đặt các biện pháp kiểm soát quy mô xây dựng và hệ số sử dụng đất.

Dù vậy, mâu thuẫn vẫn không được giải quyết triệt để.

Cùng lúc, một số tổ chức phi chính thức cố gắng bảo vệ quyền lợi của người dân. Nhưng những tổ chức này, tương tự như người dân, không có nhiều ảnh hưởng đối với các dự án phát triển, cả về mặt tài chính lẫn chính trị. Mâu thuẫn vẫn không được giải quyết, những người dân cảm thấy bất công chỉ có thể phản kháng cá nhân.

Theo tác giả Thiệu Cần, về cơ bản, quyền ở Trung Quốc vẫn dựa trên những gì chính sách cho phép, chứ không phải những gì pháp luật quy định hay cấm.

"Sự thất bại của luật pháp và tòa án trong việc bảo vệ quyền công dân còn thể hiện qua sự xuất hiện của một nhóm luật sư đặc thù ở Trung Quốc gọi là 'duy quyền' [weiquan, phong trào luật sư bảo vệ quyền lợi của người dân]," bà viết, đồng thời cho biết có rất ít luật sư dám làm như vậy vì họ biết gần như chắc chắn sẽ thua kiện và đôi khi còn kéo theo việc bị thu hồi giấy phép hành nghề hoặc mất tự do cá nhân.

Một số luật sư bảo vệ quyền của người dân đã bị bắt giữ, bị đưa vào trại tạm giam, bị quản thúc tại gia trái pháp luật, thậm chí phải chịu án tù. Một trong những vụ việc nổi bật nhất là vụ ông Trịnh Ân Sủng – một luật sư nổi tiếng chuyên tư vấn cho người dân trong các tranh chấp tài sản với chính quyền.

Ông bị tước giấy phép luật sư vào năm 2001, nhưng vẫn tiếp tục tư vấn trong hàng trăm vụ việc liên quan đến tái định cư, theo báo South China Morning Post (SCMP).

Tới năm 2003, ông bị kết án ba năm tù với tội danh tiết lộ bí mật nhà nước.

Theo SCMP, công tố viên thành lập vụ án dựa trên hai nội dung. Thứ nhất là một bài luận do ông Trịnh viết về các vụ cưỡng chế giải tỏa đất phục vụ phát triển bất động sản ở Thượng Hải, mà ông đã gửi cho các tổ chức nhân quyền phương Tây. Thứ hai là việc ông cung cấp thông tin cho truyền thông nước ngoài về các công nhân bị sa thải đang phản đối mức bồi thường không thỏa đáng từ một nhà máy ở Thượng Hải.

Một số tổ chức nhân quyền cho rằng bản án của ông mang động cơ chính trị, nhằm cảnh báo những người biểu tình cũng như giới luật sư trước làn sóng ngày càng gia tăng các cuộc biểu tình và kiện tụng chống lại chính quyền địa phương liên quan đến cưỡng chế và bồi thường nhà ở cũ.

Đó là những ngày tháng ở Thượng Hải trước năm 2011, với hàng chục ngàn vụ kiện tụng và những cư dân bất mãn bị loại ra khỏi quá trình ra quyết định giải tỏa, tái định cư và đền bù.

Bất ổn xã hội theo đó tăng cao.

Tiếng nói được lắng nghe

Từ thực tế kiện tụng, tranh chấp, xung đột kéo dài, Thượng Hải đã ban hành Quy định về trưng thu nhà ở năm 2011, thay thế cho Quy định về phá dỡ nhà ở năm 2001, với hai nội dung đáng chú ý:

  • Mức bồi thường tài chính tương đương với giá thị trường của bất động sản (do bên thứ ba đánh giá độc lập)
  • Người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định

Theo quy định này, các dự án thu hồi nhà ở tại Thượng Hải phải trải qua hai vòng lấy ý kiến cư dân. Ở vòng đầu, ít nhất 90% hộ dân phải đồng ý thì dự án mới được tiếp tục. Sau khi phương án bồi thường và tái định cư được công bố, dự án phải đạt thêm 80–85% số hộ ký thỏa thuận ở vòng hai; nếu không, toàn bộ dự án sẽ bị hủy. Các khoản bồi thường được công khai để người dân giám sát, đồng thời có hỗ trợ bổ sung cho các hộ gặp khó khăn.

Theo nghiên cứu năm 2015 của Xu Zhumin, lúc bấy giờ là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành nghiên cứu đô thị, Đại học New Orleans (Mỹ), cơ chế này vừa bảo vệ lợi ích của đa số cư dân vừa hạn chế tình trạng một nhóm nhỏ phản đối làm đình trệ dự án. Bà Xu cho rằng cách làm nói trên dẫn tới một quá trình tái định cư mà theo quan sát của bà là hiệu quả hơn. Cũng theo nghiên cứu này, từ khi chính sách trên được ban hành vào năm 2011 tới thời điểm bài nghiên cứu được công bố, chỉ có một trường hợp thu hồi nhà ở bị cư dân phủ quyết.

Về việc đền bù, quy định năm 2011 nêu rõ rằng mức bồi thường không được thấp hơn giá thị trường của một bất động sản tương đương tại thời điểm công bố quyết định thu hồi. Đây là thay đổi quan trọng khi mà trong quãng thời gian trước đó, theo nhiều bài nghiên cứu, giới chức địa phương thường ấn định mức bồi thường thấp một cách không thỏa đáng nhằm giảm chi phí cho các dự án phát triển.

Trong chương 14 cuốn Socialist Law in Socialist East Asia (Tạm dịch: Pháp luật xã hội chủ nghĩa ở Đông Á xã hội chủ nghĩa) của Phó Hoa Linh (Fu Hualing, Đại học Hong Kong), John Gillespie (Đại học Monash, Úc), Pip Nicholson (Đại học Melbourne, Úc) và William Partlett (Đại học Melbourne, Úc) biên tập, Phó Giáo sư Trần Lỗi – Phó Trưởng khoa tại Trường Luật thuộc Đại học Thành phố Hong Kong – nhận định quy định năm 2011 này khác hẳn quy định năm 2001.

Theo ông Trần Lỗi, trong khi quy định cũ thiên về việc tạo điều kiện cho quá trình phát triển đô thị diễn ra thuận lợi, quy định mới nhằm điều chỉnh quy trình thực hiện việc trưng thu và bồi thường, đồng thời bảo vệ lợi ích công cộng và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.

Trong cuốn sách xuất bản năm 2018, ông cũng đề cập tới một số điểm quy định mà ông cho là quan trọng như tổ chức điều trần công khai, bảo đảm sự tham gia của các chủ sở hữu tài sản bị ảnh hưởng hoặc việc chính cơ quan trưng thu nhà ở thuộc chính quyền mới là bên ký kết các thỏa thuận về trưng thu và bồi thường với cá nhân – tức chính quyền là chủ thể duy nhất có quyền tiến hành trưng thu, thay vì các nhà phát triển bất động sản hoặc các bên trung gian khác.

Một điểm khác quan trọng khác, được ông Trần Lỗi đề cập trước đó trong một nghiên cứu năm 2013, là việc thu hẹp định nghĩa "lợi ích công cộng" – yếu tố được sử dụng làm lý do cho những dự án xây dựng.

Theo ông Trần Lỗi, việc này giúp giảm nguy cơ việc thu hồi đất bị biến thành một hình thức tước đoạt tài sản vì lợi ích cá nhân. Để so sánh, ông nói rằng trong giai đoạn trước khi quy định này ra đời, chính quyền địa phương có quyền lực không giới hạn để xác định thế nào là "lợi ích công cộng" và, do đó, khái niệm này cho phép chính quyền địa phương làm bất cứ điều gì họ muốn. Dù vậy, ông cũng lưu ý rằng về thực tế, một dự án công vẫn có thể được tư nhân hóa sau khi đã hoàn thành và do đó khái niệm "lợi ích công cộng" chỉ đóng vai trò như một cơ chế sàng lọc ban đầu.

Vào tháng 4/2013, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã ban hành "Văn bản trả lời về việc cưỡng chế phá dỡ các công trình xây dựng trái phép", trong đó tự hạn chế chính mình cũng như các tòa án các cấp trong việc tiếp nhận đơn đề nghị từ chính quyền địa phương yêu cầu cưỡng chế phá dỡ các công trình xây dựng trái phép.

"Đây là một tín hiệu rõ ràng cho thấy các tòa án Trung Quốc đang dần từ chối trở thành một tác nhân gây ra bất ổn xã hội phát sinh từ các vụ cưỡng chế di dời và thu hồi tài sản không phù hợp," ông nhận định.

Bài học cho Hà Nội

Diễn hoạ dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng

Nguồn hình ảnh, UBND TP Hà Nội

Chụp lại hình ảnh, Diễn hoạ dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng

Theo ông Trần Lỗi, quy định năm 2011 phần nào xuất phát từ việc Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày càng quan tâm tới việc duy trì ổn định xã hội, trong bối cảnh có quá nhiều vụ việc phát sinh từ những tranh chấp liên quan đến thu hồi đất.

Tuy nhiên, tác giả cho rằng "những thay đổi này phần lớn bắt nguồn từ sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu, những người ngày càng khẳng định quan điểm 'tài sản của tôi, số phận của tôi'."

Nhiều chuyên gia cũng có ý kiến tương tự, cho rằng bất ổn xã hội là món nợ phải trả, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Người dân Hà Nội nói riêng, và Việt Nam nói chung, cũng đang trải qua những khó khăn tương tự người dân Thượng Hải trong quá khứ.

Họ không có quyền tham gia quyết định giải tỏa, không có khả năng thương lượng mức đền bù, không rõ mình được tái định cư ở đâu và vào thời điểm nào...

Những tấm băng rôn treo trước cửa, những hội nhóm trên mạng xã hội là các hành động phản đối khả dĩ nhất mà họ có thể thực hiện.

Nổi bật nhất có thể kể tới việc người dân làng Hải Bối, Đông Anh, mặc "đồng phục" để phản đối việc giải tỏa.

Người dân treo băng rôn đề nghị không bị giải tỏa

Nguồn hình ảnh, Bạn đọc gửi cho BBC

Chụp lại hình ảnh, Người dân treo băng rôn yêu cầu không giải tỏa

Tại Việt Nam, logic khiến người dân phải rời khỏi mảnh đất họ đang ở, và có quyền sử dụng hợp pháp, để nhường chỗ cho các dự án của nhà nước hoặc được nhà nước hậu thuẫn nằm trong quy định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân" và do nhà nước "đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý".

Quy định này giúp nhà nước dễ dàng thực hiện việc giải tỏa bởi, theo luật, người dân không thực sự sở hữu đất. Thứ họ sở hữu là quyền sử dụng đất cùng các tài sản được tạo dựng trên mảnh đất đó – như nhà cửa, hoa màu.

Với quyền lực áp đảo, nhà nước và chủ đầu tư tư nhân được nhà nước hậu thuẫn không có nhiều động lực để thương lượng bình đẳng, tính giá đền bù theo giá thị trường. Bởi một khi thương lượng bình đẳng, lấy ý kiến dân cư công khai, thì nguy cơ bị người dân phản đối, dẫn tới việc dự án phát triển hạ tầng phải bị hủy bỏ luôn hiện diện. Việc đền bù theo giá thị trường còn khiến chi phí đầu tư tăng lên.

Do đó, các quyết định của nhà nước đối với việc giải tỏa thường được áp từ trên xuống. Các phương án đền bù, tái định cư cũng được tiến hành theo cách tương tự. Người dân luôn ở vào thế yếu và bị động trong các quyết định liên quan đến an cư, sinh kế của chính họ.

Tuy nhiên, từ thực tế ở Việt Nam, và kinh nghiệm của Thượng Hải nói trên, các chuyên gia cho rằng khi tính toán chi phí, nhà nước cần đặc biệt coi trọng cảm xúc, tâm tư của người dân. Việc áp đặt một chiều sẽ khiến người dân bất mãn, bức xúc, mất lòng tin. Những cảm xúc, tâm tư này dồn nén sẽ trở thành tác nhân của bất ổn xã hội. Và cuối cùng, đây sẽ là cái giá phải trả trong tương lai.

Gần đây, có những chuyển động gợi ý rằng chính quyền Việt Nam học hỏi mô hình của Thượng Hải và Trung Quốc.

Vào tháng 2/2026, một đoàn công tác của chính quyền Hà Nội đã tới Thượng Hải để tham quan một số mô hình nhằm phục vụ cho việc xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.

Tới cuối tháng Năm, đoàn công tác Bộ Xây dựng cũng đã sang Trung Quốc và làm việc với một số cơ quan của Thượng Hải liên quan tới quản lý quy hoạch, kiến trúc.

Và vào đầu tháng 6, sau những phản ứng của người dân, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã ký ban hành Chỉ thị số 16 của Ban Thường vụ Thành ủy, khẳng định việc triển khai dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng là "nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng".

Đảng ủy UBND thành phố được giao chỉ đạo xây dựng kế hoạch khảo sát, triển khai các giải pháp đồng bộ hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm, tạo sinh kế bền vững.

Thành phố khẳng định sẽ thiết lập cơ chế đối thoại công khai, thường xuyên với nhân dân; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, xử lý phản ánh, không để phát sinh điểm nóng và các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự.

Vẫn chưa rõ chính quyền sẽ tăng cường giải quyết phần gốc – đối thoại và tiếp thu các kiến nghị của người dân như cách Thượng Hải đã làm – hay chỉ tập trung dập tắt các ý kiến phản đối để không "phát sinh điểm nóng và các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự".

Trên thực tế, Thành ủy Hà Nội và báo chí đã triển khai chiến dịch tuyên truyền, cáo buộc "thế lực thù địch" lợi dụng bức xúc của người dân "để kích động chống Đảng, Nhà nước", như một bài viết của báo Công an nhân dân được website Thành ủy Hà Nội dẫn lại hồi cuối tháng 5 cho thấy.