Bệnh Alzheimer thể thị giác, ngôn ngữ, rối loạn chức năng vận động thường không ảnh hưởng đến trí nhớ ở giai đoạn sớm.
Bệnh Alzheimer (AD) là dạng rối loạn thoái hóa thần kinh tiến triển, đặc trưng bởi sự tích tụ của các mảng bám amyloid-β và các đám rối sợi thần kinh tau trong mô não. Quá trình này làm tổn thương tế bào thần kinh, phá vỡ mạng lưới dẫn truyền thông tin trong não bộ.
Bệnh Alzheimer được chia thành hai nhóm chính gồm thể điển hình và các biến thể không điển hình. ThS.BS Diêm Thị Huyền, Khoa Thần kinh - Đột quỵ, Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Cầu Giấy, cho biết Alzheimer thể điển hình thường gây tổn thương tại vùng hồi hải mã, thùy thái dương trong (trung tâm hình thành và lưu trữ ký ức trong não bộ).
Ở thể này, người bệnh bị suy giảm trí nhớ ngắn hạn (khó ghi nhớ thông tin mới tiếp nhận), sau đó tiến triển sang suy giảm trí nhớ dài hạn (quên các ký ức cũ, bao gồm cả địa chỉ nơi ở, danh tính người thân). Giai đoạn nặng, bệnh gây mất trí nhớ rõ rệt, mất khả năng tự chăm sóc bản thân, phụ thuộc hoàn toàn người hỗ trợ.
Tuy nhiên, theo bác sĩ Huyền, một số bệnh nhân (đặc biệt là nhóm khởi phát sớm dưới 65 tuổi) mắc các biến thể Alzheimer không điển hình - không liên quan tới suy giảm trí nhớ ở giai đoạn sớm. Khi khởi phát, người bệnh xuất hiện các dạng các rối loạn chức năng như thị giác, ngôn ngữ, rối loạn chức năng điều hành hoặc hành vi, và vận động, trong khi trí nhớ tạm thời được bảo tồn tương đối tốt.
Alzheimer thể thị giác
Biến thể này tấn công vào vùng não xử lý thị giác cao cấp ở thùy chẩm và thùy đỉnh. Người bệnh bị mất khả năng nhận thức không gian, mất định hướng trái - phải, không thể nhìn nhiều đồ vật cùng lúc (hội chứng Balint) hoặc mất khả năng nhận diện đồ vật, khó khăn khi đọc sách, lái xe dù mắt không có tổn thương thực thể.
Alzheimer thể ngôn ngữ
Tổn thương tập trung ở vùng thái dương - đỉnh phía sau của bán cầu đại não, ảnh hưởng chủ yếu đến khả năng giao tiếp.
Triệu chứng nổi bật của Alzheimer thể ngôn ngữ là người bệnh nói ngập ngừng do thường xuyên phải dừng lại tìm từ, khó nói câu dài, diễn tả vòng vo, mắc lỗi phát âm. Tình trạng này dễ bị nhầm với đột quỵ, rối loạn ngôn ngữ hoặc các thể sa sút trí tuệ khác.
Alzheimer thể điều hành (dysexecutive AD)
Biến thể này làm suy giảm nghiêm trọng khả năng lập kế hoạch, tổ chức công việc, tư duy trừu tượng và giải quyết vấn đề. Người bệnh dễ mất tập trung, gặp khó khăn khi làm thực hiện các công việc phức tạp vốn rất quen thuộc trước đây.
Alzheimer thể hành vi (behavioral AD)
Tổn thương gây thay đổi về tính cách và cảm xúc. Người bệnh có thể xuất hiện các hành vi khác lạ như đột nhiên thèm đồ ngọt dữ dội, ăn uống mất kiểm soát, thờ ơ, giảm sự đồng cảm, có các hành vi ám ảnh cưỡng chế hoặc có hành vi không phù hợp với chuẩn mực xã hội. Biến thể này dễ bị nhầm lẫn với bệnh sa sút trí tuệ thùy trán - thái dương (FTD), theo bác sĩ Huyền.
Alzheimer thể vận động (CBS)
Biến thể này gây ra các triệu chứng vận động bất đối xứng (thường ở một bên tay hoặc chân) kèm theo rối loạn chức năng vỏ não. Người bệnh bị gồng cứng cơ, giật cơ, khó thực hiện các động tác như cài cúc áo, cầm đũa, viết chữ...
Bác sĩ chụp cộng hưởng từ cho người bệnh Alzheimer. Ảnh minh họa: Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Cầu Giấy
Bác sĩ Huyền lưu ý do triệu chứng ban đầu không liên quan đến suy giảm trí nhớ nên các biến thể bệnh Alzheimer không điển hình dễ bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh lý về mắt, bệnh Parkinson, trầm cảm...
Để chẩn đoán chính xác, người bệnh nên đến các bệnh viện đa chuyên khoa để được khám, đánh giá toàn diện. Bác sĩ có thể chỉ định khám thần kinh, thực hiện các trắc nghiệm nhận thức chuyên sâu, chụp cộng hưởng từ (MRI), PET khi cần thiết. Xét nghiệm dịch não tủy/huyết thanh để đo lường các dấu ấn sinh học amyloid-β và p-tau là phương pháp giúp khẳng định bệnh Alzheimer, từ đó bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị, kiểm soát bệnh.
Thanh Long
Độc giả đặt câu hỏi về bệnh thần kinh tại đây để bác sĩ giải đáp








