Chi phí chữa vô sinh vẫn là gánh nặng với nhiều gia đình Việt

1 시간 전 12

Thứ hai, 1/6/2026, 19:35 (GMT+7)

Tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, trong khi chi phí điều trị vẫn là rào cản lớn khiến nhiều cặp vợ chồng chưa thể tiếp cận các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện đại.

"Rào cản lớn nhất với các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn hiện nay đến từ chi phí, nhiều gia đình gặp gánh nặng tài chính trong quá trình tìm con", TS.BS Nguyễn Thị Sim, Phó Tổng Giám đốc Bệnh viện Đại học Phenikaa, Giám đốc Quỹ Phenikaa vì trẻ em, nói tại lễ ra mắt Quỹ hôm 1/6.

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ 6 cặp vợ chồng thì có một cặp gặp khó khăn trong việc sinh con. Tại Việt Nam, thống kê của Bộ Y tế cho thấy khoảng 7,7% dân số trong độ tuổi sinh sản bị vô sinh, hiếm muộn. Đáng chú ý, vô sinh thứ phát - tình trạng khó có con sau khi từng mang thai - đang gia tăng và chiếm hơn một nửa số trường hợp vô sinh. Xu hướng kết hôn muộn, sinh con muộn cùng những tác động từ môi trường sống, áp lực công việc và căng thẳng kéo dài là những yếu tố góp phần làm gia tăng tỷ lệ vô sinh.

 Bệnh viện cung cấp

Các bác sĩ can thiệp bào thai cho một trường hợp tại bệnh viện. Ảnh: Bệnh viện cung cấp

Trong hơn hai thập kỷ qua, lĩnh vực hỗ trợ sinh sản của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, tỷ lệ thành công tại nhiều trung tâm đạt từ 50-70%. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân được tiếp cận điều trị vẫn còn thấp so với nhu cầu thực tế. Nguyên nhân lớn nhất là chi phí điều trị.

Chi phí điều trị vô sinh, hiếm muộn hay can thiệp bào thai luôn ở mức đắt đỏ xuất phát từ bản chất đặc thù của những kỹ thuật y khoa tối tân. Các phương pháp hỗ trợ sinh sản hay phẫu thuật trong buồng tử cung đòi hỏi hệ thống phòng lab siêu sạch, máy móc vi thao tác phức tạp và nguồn hóa chất nuôi cấy phôi gần như phải nhập khẩu hoàn toàn với tiêu chuẩn vô cùng khắt khe. Cùng với đó, sự thành bại của các ca can thiệp còn phụ thuộc vào đội ngũ chuyên gia được đào tạo chuyên sâu hàng chục năm. Những đòi hỏi khắt khe về cả công nghệ lẫn nhân lực này khiến giá thành dịch vụ y tế rất khó để hạ thấp.

Thêm vào đó, một rào cản lớn khác tiếp tục kìm chân các gia đình hiếm muộn đến từ những khoảng trống trong chính sách an sinh. Hiện nay, điều trị vô sinh vẫn chưa nằm trong danh mục được Bảo hiểm Y tế chi trả. Trong tư duy hoạch định truyền thống, vô sinh đôi khi chưa được đánh giá đúng mức như một căn bệnh, khiến người bệnh phải tự gánh vác toàn bộ chi phí. Điều này tạo ra một sự bất bình đẳng vô hình, bởi tổn thương cơ quan sinh sản hoàn toàn là một bệnh lý và khao khát được làm cha mẹ là quyền cơ bản, chính đáng của mọi công dân.

Hệ lụy của những rào cản tài chính này trước hết ảnh hưởng đến đời sống của các gia đình. Khi không có đủ tiền để can thiệp sớm, nhiều cặp vợ chồng phải chật vật làm lụng, tích cóp từ năm này qua năm khác. Đáng buồn thay, nghịch lý thường xảy ra là khi họ gom đủ tiền thì tuổi tác đã cao, chất lượng trứng và tinh trùng suy giảm khiến tỷ lệ thụ thai thành công thấp đi, đẩy chi phí điều trị đội lên gấp bội. Áp lực tìm con cùng gánh nặng nợ nần không chỉ làm kiệt quệ kinh tế mà còn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến trầm cảm, mệt mỏi và thậm chí là sự đổ vỡ của nhiều cuộc hôn nhân.

Rộng hơn, câu chuyện hiếm muộn không còn là nỗi đau của riêng từng mái nhà mà đang tác động trực tiếp đến vận mệnh nhân khẩu học của cả quốc gia. Việt Nam đang đối mặt với thực trạng mức sinh giảm sâu kỷ lục, trong khi tỷ lệ vô sinh lại chiếm đến gần 8% dân số trong độ tuổi sinh sản. Nếu lực lượng này không được hỗ trợ kịp thời để sinh ra những thế hệ tiếp nối khỏe mạnh, đất nước chắc chắn sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng và tốc độ già hóa dân số tăng nhanh chóng mặt trong vài thập kỷ tới.

Để tháo gỡ nút thắt này, các chuyên gia đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ và nhân văn cần được triển khai khẩn trương. Chìa khóa mang tính bước ngoặt chính là nỗ lực sửa đổi chính sách Bảo hiểm Y tế từ các cơ quan quản lý, từng bước đưa một phần chi phí khám, chẩn đoán và điều trị vô sinh cơ bản hoặc can thiệp bào thai thiết yếu vào danh mục chi trả.

Việc áp dụng lộ trình hỗ trợ chi phí, tương tự cách nhiều quốc gia tiên tiến đang làm, sẽ tạo động lực lớn lao cho các gia đình. Song song đó, sự tiếp sức từ các quỹ hỗ trợ y tế cộng đồng hay các gói tín dụng y tế trả góp không lãi suất từ khối ngân hàng sẽ đóng vai trò như những chiếc phao cứu sinh, giúp các vợ chồng trẻ giải quyết bài toán tài chính trước mắt để chớp lấy thời gian vàng trong điều trị.

Bên cạnh các yếu tố vĩ mô, bản thân các cơ sở y tế cũng cần liên tục cập nhật, chuẩn hóa phác đồ điều trị và tối ưu hóa quy trình để giảm thiểu tối đa các loại thuốc hay xét nghiệm chưa thực sự cần thiết. Về chiến lược dài hạn, ngành y tế cần hướng tới việc tự chủ sản xuất một số vật tư, môi trường nuôi cấy trong nước để cắt giảm sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Cuối cùng, việc khuyến khích thói quen khám sức khỏe tiền hôn nhân phải được lan tỏa rộng rãi hơn nữa nhằm phát hiện sớm các bệnh lý sinh sản, giúp hành trình tìm con về sau bớt khó khăn.

 Mai Thuận

Lãnh đạo bệnh viện công bố Quỹ vì trẻ em. Ảnh: Mai Thuận

Lê Nga

전체 기사 읽기