El Nino siêu mạnh, Đồng bằng sông Cửu Long làm gì trước nguy cơ khô hạn lịch sử?

7 giờ trước 10

 ĐBSCL ứng phó trước nguy cơ khô hạn lịch sử - Ảnh 1.

Đợt khô hạn lịch sử 2015-2016 “đẩy” vùng Đồng bằng sông Cửu Long rơi vào cảnh thiếu nước nghiêm trọng - Ảnh: TRUNG CHÁNH

Cùng thời điểm này vào năm 2015, tức trước khi vùng Đồng bằng sông Cửu Long bước vào mùa khô khắc nghiệt, các tổ chức khí tượng quốc tế, bao gồm WMO (Tổ chức Khí tượng thế giới) và NOAA (Cơ quan Quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ) đều xác nhận El Nino đã hình thành và liên tục nâng cấp dự báo về cường độ. 

Trong đó WMO đánh giá El Nino khi đó thuộc nhóm mạnh nhất kể từ năm 1950, và tương đương các đợt El Nino lịch sử giai đoạn 1982-1983 và 1997-1998.

El Nino "đẩy" Đồng bằng sông Cửu Long tái lập khô hạn lịch sử? 

Thực tế cao điểm mùa khô 2015-2016, người dân khu vực tỉnh Bến Tre cũ (nay thuộc Vĩnh Long) đối mặt tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng, thậm chí phải mua nước ngọt được lấy từ thượng nguồn sông Tiền chở về bằng sà lan với giá 150.000 - 200.000 đồng/m3.

Còn ở thời điểm hiện tại, Cơ quan Khí tượng Úc (BOM) xác nhận chỉ số Nino 3.4 - vùng được sử dụng để theo dõi và đánh giá El Nino - trong tuần kết thúc ngày 26-7-2026 ở mức +1,94°C, cao hơn nhiều so với ngưỡng El Nino tham chiếu được đơn vị này sử dụng (+0,8°C).

Mức nhiệt nêu trên cho thấy tín hiệu El Nino đang ở mức mạnh. Đây là yếu tố đáng lưu ý đối với Đồng bằng sông Cửu Long, bởi hiện tượng này có thể làm gia tăng nguy cơ khô hạn, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô tới.

Những dự báo đưa ra là rất đáng lưu ý bởi nếu điều kiện bất lợi xuất hiện, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể đối mặt với khô hạn, xâm nhập mặn nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, nguồn nước sinh hoạt và sinh kế của hàng triệu người dân, nhất là các khu vực ven biển.

 ĐBSCL ứng phó trước nguy cơ khô hạn lịch sử - Ảnh 2.

Người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng - Ảnh: TRUNG CHÁNH

Giảm lúa, ưu tiên nước sinh hoạt

Điểm đáng lưu ý ở thời điểm hiện nay là Đồng bằng sông Cửu Long đã có kinh nghiệm ứng phó sau các đợt hạn mặn 2015-2016 và 2019-2020, đồng thời đã đầu tư nhiều công trình thích ứng. Tuy nhiên việc chủ động trước nguy cơ xuất hiện một đợt khô hạn khốc liệt vẫn là điều cần thiết.

TS Lê Anh Tuấn - nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (nay là Viện Mekong) thuộc Đại học Cần Thơ - khuyến nghị Đồng bằng sông Cửu Long cần tận dụng khoảng thời gian còn lại trước mùa khô để chủ động ứng phó với các kịch bản khô hạn, xâm nhập mặn có thể xảy ra trong thời gian tới.

Theo ông, ưu tiên trước mắt là phải tăng cường khả năng trữ nước. 

"Từ nay đến cuối mùa mưa phải tìm cách trữ nước càng nhiều càng tốt", ông nhấn mạnh và cho biết việc trữ nước cần được thực hiện ở nhiều cấp độ, từ hệ thống công trình của địa phương đến từng hộ dân thông qua ao hồ, lu chứa, túi chứa nước hoặc hồ xi măng.

Ở góc độ địa phương, bà Nguyễn Thị Mỹ Hưng - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp - cho biết địa phương sẽ đầu tư dự án chuyển nước ngọt qua kênh Chợ Gạo để cấp cho vùng dự án ngọt hóa Gò Công. 

Đây được xem là giải pháp nhằm xử lý tình trạng thời tiết cực đoan làm khu vực này rơi vào cảnh thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

Theo bà Hưng, khi hoàn thành, dự án sẽ giúp chủ động nguồn nước ngọt ổn định, liên tục cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp tại vùng ngọt hóa Gò Công. 

"Đây là tiền đề vững chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của toàn vùng trong tương lai", bà nhấn mạnh.

Liên quan đến sản xuất nông nghiệp, TS Lê Anh Tuấn đề xuất xem xét lại việc mở rộng diện tích lúa ở những vùng thường xuyên đối mặt với hạn mặn. 

"Không nên mở rộng diện tích canh tác lúa, bởi đây là loại cây trồng sử dụng nước rất lớn, trong khi giá trị mang lại không cao", ông Tuấn nói.

Theo ông Tuấn, trong bối cảnh nguồn nước có nguy cơ thiếu hụt, cần ưu tiên nước sinh hoạt trước khi tính đến sản xuất. Các nhà máy cấp nước vùng ven biển phải chủ động, xây dựng phương án đưa nước thô từ khu vực thượng nguồn về phục vụ xử lý và cấp nước cho người dân.

Đồng thời cần chuẩn bị các giải pháp xử lý nước lợ thành nước ngọt để ứng phó khi xảy ra tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng. 

"Phải ưu tiên cho người dân trước, sau đó mới đến chăn nuôi và các nhu cầu sản xuất khác", TS Tuấn nhấn mạnh.

Đối với người dân vùng ven biển, cần chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất ngay từ bây giờ. Trong đó những loại cây trồng sử dụng nhiều nước cần được cân nhắc cắt giảm, hoặc chuyển đổi sang mô hình phù hợp với điều kiện nguồn nước. 

"Bây giờ gieo lúa mà không có nước thì thiệt hại còn lớn hơn. Thà không làm còn hơn làm không tới nơi tới chốn, ảnh hưởng năng suất, thậm chí mất trắng", ông lưu ý.

Bên cạnh các giải pháp về nước và sản xuất, các địa phương cần tăng cường tuyên truyền sử dụng nước tiết kiệm, hỗ trợ người dân chuyển đổi sinh kế phù hợp với điều kiện hạn mặn, đồng thời chủ động xây dựng phương án phòng, chống cháy rừng tại các khu rừng tràm và khu bảo tồn thiên nhiên.

Từ những tín hiệu dự báo hiện nay, rõ ràng việc đưa ra các khuyến cáo, hướng dẫn cụ thể để chủ động ứng phó là cần thiết.

Đọc toàn bộ bài viết