50 năm y tế TP.HCM: 'Gần dân, thuận lợi cho dân', lấy 'phòng bệnh là chính, điều trị là quan trọng'

15 hours ago 20

 Thanh toán nhiều bệnh nguy hiểm, bài học ứng phó sau đại dịch COVID-19 - Ảnh 1.

Khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho nhân dân tại các trạm y tế phường, xã vào tháng 7-1975 - Ảnh: Sở Y tế TP.HCM cung cấp

Sau ngày giải phóng, ngành y tế TP.HCM phải đối mặt với muôn vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, từ thiếu thốn cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men đến nhân lực y tế.

Trong suốt 50 năm xây dựng và phát triển, nâng cao năng lực phòng chống dịch bệnh và phát triển y tế cộng đồng luôn là hai trong những nhiệm vụ trọng tâm được ngành y tế thành phố ưu tiên tập trung nguồn lực triển khai.

Loại trừ những bệnh từng là nỗi ám ảnh

Theo dữ liệu Sở Y tế TP.HCM, sau ngày giải phóng, ngành y tế thành phố phát triển theo phương châm "gần dân, thuận lợi cho dân", lấy "phòng bệnh là chính, điều trị là quan trọng". Cùng với chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai trên toàn quốc từ năm 1986, TP.HCM đã kiểm soát hiệu quả nhiều dịch bệnh truyền nhiễm.

TP.HCM thanh toán bệnh bại liệt từ năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh từ năm 2005, loại trừ sốt rét vào năm 2020 và bệnh phong vào năm 2023. Nhiều bệnh có vắc xin phòng ngừa như sởi, ho gà, bạch hầu và uốn ván cũng giảm mạnh…

Với nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực y tế công cộng và là một trong những chuyên gia có nhiều đề xuất, hiến kế trong công tác phòng chống đại dịch COVID-19, PGS Đỗ Văn Dũng - Giảng viên cao cấp khoa y tế công cộng, Trường Đại học Y dược TP.HCM - đánh giá sau năm 1975, mô hình bệnh tật của TP.HCM đã chuyển dịch.

Từ địa phương có tỉ lệ các bệnh nhiễm trùng và suy dinh dưỡng chiếm tuyệt đối, nay đã sang mô hình bệnh tật kép, nghiêng hẳn về các bệnh không lây nhiễm.

Nhờ chiến lược tiêm chủng mở rộng và cải thiện hạ tầng đô thị, nhiều bệnh truyền nhiễm từng là gánh nặng lớn đã được kiểm soát hiệu quả hoặc loại trừ: bại liệt, uốn ván sơ sinh, bệnh tả, thương hàn, bạch hầu và ho gà.

Ngược lại, do mật độ dân số cao, di biến động dân cư lớn và khí hậu nhiệt đới, thành phố vẫn đối mặt với các thách thức dai dẳng như sốt xuất huyết Dengue, lao và lao kháng thuốc, HIV/AIDS, bệnh mới nổi/tái nổi do dễ xâm nhập qua cửa ngõ giao thương (cúm gia cầm, đậu mùa khỉ, COVID-19) hoặc bùng phát thường niên (tay chân miệng).

Ngoài ra, các bệnh mãn tính như tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường và ung thư đang là nguyên nhân gây tử vong và gánh nặng y tế hàng đầu tại TP.HCM.

 Thanh toán nhiều bệnh nguy hiểm, bài học ứng phó sau đại dịch COVID-19 - Ảnh 2.

Một cán bộ y tế phòng điều hành hành chính dùng tọa đàm liên lạc và trao đổi thông tin các ca bệnh và bác sĩ bên trong khu điều trị COVID-19 vào thời điểm năm 2021 - Ảnh: NAM TRẦN

Từ giám sát thụ động, thủ công đến chủ động, phản ứng nhanh

Phân tích dịch tễ TP.HCM, ông Dũng cho hay các yếu tố kinh tế - xã hội đã tạo ra hiệu ứng cộng hưởng làm thay đổi sâu sắc bức tranh dịch tễ này.

Theo đó, mật độ dân cư cao thúc đẩy bệnh hô hấp (lao, cúm, tay chân miệng); các công trình dở dang tạo ổ đọng nước cho muỗi Aedes aegypti truyền sốt xuất huyết. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu làm rút ngắn thời gian ủ bệnh ngoại lai của vi rút trong muỗi, khiến dịch sốt xuất huyết bùng phát sớm và kéo dài hơn.

Với việc giao lưu quốc tế qua cửa ngõ Tân Sơn Nhất, thành phố trở thành "tiền tuyến" đón các bệnh mới nổi (đậu mùa khỉ, cúm mới, Zika) chỉ trong 24 giờ.

Theo ông Dũng, so với sự thụ động và thủ công của 20 - 30 năm trước, thay đổi công tác phòng chống dịch lớn nhất hiện nay là bước chuyển mình sang giám sát chủ động dựa trên dữ liệu số và phản ứng nhanh.

Việc liên thông dữ liệu theo thời gian thực đã thay thế phương thức báo cáo giấy vốn chậm 1-2 tuần. Dữ liệu ca bệnh từ các bệnh viện tuyến cuối được chuyển ngay về Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM (HCDC), giúp cơ quan y tế nhanh chóng kích hoạt điều tra thực địa và triển khai các biện pháp đáp ứng.

Ứng dụng công nghệ GIS giúp tự động hóa việc định vị ca bệnh và vẽ bản đồ nhiệt hiển thị cụm ca bệnh, tối ưu hóa nguồn lực phun hóa chất diệt muỗi trúng đích.

Giám sát dựa vào sự kiện qua việc chủ động thu thập tín hiệu bất thường từ cộng đồng, trường học, hiệu thuốc thay vì ngồi chờ bệnh nhân nhập viện. Đội đáp ứng nhanh vận hành đa ngành, cơ động xử lý ổ dịch trong vài giờ theo phương châm "4 tại chỗ".

“Tóm lại, ngành y tế dự phòng thành phố đã có các bước tiến, chuyển từ tư thế "đi sau dập dịch sang chủ động đón đầu và quản trị nguy cơ”, ông Dũng kết luận.

Bài học từ đại dịch COVID-19

Đại dịch COVID-19 cũng là một dấu mốc đặc biệt trong chặng đường 50 năm hình thành và phát triển của TP.HCM mang tên Bác, từng đặt ngành y tế TP.HCM trước thử thách chưa từng có khi số ca mắc mới và tử vong tăng cao nhất cả nước.

Theo ông Đỗ Văn Dũng, đại dịch COVID-19 đã chuyển dịch tư duy y tế dự phòng từ "phòng ngự cục bộ" sang "chủ động tầm soát, quản trị nguy cơ toàn diện" qua ba bài học: nhìn nhận y tế cơ sở là tuyến đầu ngăn chặn sự sụp đổ hệ thống, coi an ninh y tế là an ninh quốc gia cần phối hợp đa ngành và đề cao giá trị của dữ liệu động, thời gian thực.

Từ những bài học trong công tác phòng chống dịch, đặc biệt sau đại dịch COVID-19, Sở Y tế TP.HCM cho biết ngành y tế TP.HCM đã tham mưu UBND TP ban hành Đề án củng cố tổ chức, nâng cao năng lực HCDC, xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động, kết nối từ bệnh viện đến trạm y tế, nâng cao năng lực dự báo, phát hiện sớm và ứng phó dịch bệnh.

Đặc biệt đẩy mạnh hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực giám sát và cảnh báo dịch bệnh.

Read Entire Article