Chuyên gia Matt Jackson của UNFPA cho rằng hỗ trợ tài chính chưa đủ để giảm mất cân bằng giới tính, Việt Nam cần đầu tư vào giáo dục và cơ hội phát triển cho trẻ em gái.
Theo Tổng cục Thống kê, tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam hiện khoảng 110 bé trai trên 100 bé gái, cao hơn mức tự nhiên (104-106). Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo cho phép các địa phương hỗ trợ gia đình sinh hai con gái bằng các chính sách như miễn, giảm học phí, cấp bảo hiểm y tế và sữa học đường.
Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam, đánh giá đây là nỗ lực ứng phó tình trạng mất cân bằng giới tính, nhưng hiệu quả cần tác động vào gốc rễ vấn đề.
Báo cáo do UNFPA và Tổng cục Thống kê công bố cho thấy tỷ số giới tính khi sinh ở nhóm 20% hộ có thu nhập cao nhất là 112,9 bé trai trên 100 bé gái, trong khi nhóm nghèo nhất là 108,2.
Khảo sát đánh giá "Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh" giai đoạn 2016-2025 cũng chỉ ra 54% người thuộc nhóm thu nhập cao biết phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi, gấp đôi nhóm nghèo.
Ở nhóm có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, tỷ lệ lựa chọn giới tính cao gấp hai lần nhóm học hết tiểu học. "Những gia đình khá giả cũng lựa chọn giới tính thai nhi. Điều đó cho thấy tiền không phải nguyên nhân cốt lõi", ông Jackson nói.
Chuyên gia cho biết các khoản hỗ trợ tài chính là cần thiết, nhưng khó tạo ra thay đổi lâu dài nếu triển khai riêng lẻ.
Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam. Ảnh Nhân vật cung cấp
Mức sinh ngày càng giảm cũng làm gia tăng áp lực phải có con trai. Khi nhiều cặp vợ chồng chỉ dự định sinh một hoặc hai con, cơ hội có con trai theo quy luật tự nhiên cũng giảm. Trong bối cảnh đó, các chính sách đầu tư lâu dài cho trẻ em gái có thể góp phần giảm áp lực khi gia đình quyết định sinh con, nhưng không thể thay thế những giải pháp xử lý nguyên nhân của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Chuyên gia cũng lưu ý rủi ro không nằm ở khoản hỗ trợ mà ở thông điệp của chính sách. Nếu truyền thông thiếu cẩn trọng, người dân có thể hiểu Nhà nước đang "bù đắp thiệt thòi" cho các gia đình sinh con gái, từ đó củng cố tư tưởng con gái có giá trị thấp hơn.
"Nếu chính sách không được thiết kế cẩn trọng, chúng ta có thể vô tình duy trì chính định kiến mà mình đang muốn xóa bỏ", ông Jackson nói.
Thay vì thưởng cho gia đình sinh con gái, ông đề xuất đầu tư trực tiếp vào giáo dục, y tế và cơ hội phát triển của các bé gái. Cách tiếp cận này vừa mang lại lợi ích thiết thực, vừa khẳng định con gái và con trai có giá trị như nhau.
Ông Matt Jackson dẫn chứng một số quốc gia đã thành công trong việc đảo ngược được tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, ví dụ Hàn Quốc. Năm 1994, cứ 100 bé gái chào đời có 115,4 bé trai, dù chính phủ đã cấm xác định giới tính thai nhi từ năm 1987. Tỷ số này chỉ trở về mức tự nhiên sau năm 2005, khi Hàn Quốc mở rộng cơ hội học tập, việc làm cho phụ nữ, sửa quy định thừa kế và bãi bỏ chế độ đăng ký gia đình coi nam giới là chủ hộ.
Tại Ấn Độ, chương trình "Cứu con gái, giáo dục con gái" (Beti Bachao Beti Padhao) triển khai từ năm 2015 đã huy động nhiều bộ ngành, trường học cùng tham gia. Chính quyền đẩy mạnh theo dõi thai sản, khuyến khích các gia đình cho con gái đi học. Số liệu cho thấy tỷ số trẻ em gái trên 1.000 bé trai tăng từ 918 (giai đoạn 2014-2015) lên 929 (giai đoạn 2024-2025). Tỷ lệ nhập học trung học của trẻ em gái tăng từ 75,51% lên 80,2%.
Học sinh tại trường Mầm non Ánh Sao, phường Yên Sở, Hà Nội, tháng 10/2025. Ảnh: Tùng Đinh
Ông Jackson nói điểm chung của Hàn Quốc và Ấn Độ là tập trung thay đổi các yếu tố xã hội dẫn đến tư tưởng trọng nam và đầu tư nhiều hơn cho phụ nữ.
"Các khoản hỗ trợ tài chính giúp giảm chi phí nuôi con, nhưng để giảm tình trạng lựa chọn giới tính thai nhi, cần tạo môi trường để trẻ em gái được coi trọng và phát triển bình đẳng", ông Jackson cho biết.








