Dùng thiết bị công nghệ đúng cách

5 hours ago 13

Giảm cận thị học đường không có nghĩa cấm trẻ dùng công nghệ, mà giúp trẻ sử dụng thiết bị số đúng cách và có 'điểm dừng'.

Cận thị còn là hiện tượng xã hội

Theo TS xã hội học, thạc sĩ tâm lý trị liệu Phạm Thị Thúy, giảng viên Học viện Chính trị khu vực II, cận thị không chỉ là vấn đề y khoa mà còn là một hiện tượng xã hội. Việc ngày càng nhiều trẻ mắc tật khúc xạ, nhất là cận thị, phản ánh sự thay đổi trong cách học tập, sinh hoạt hằng ngày. Bà nhận định, đô thị hóa, chuyển đổi số trong giáo dục, áp lực học tập và nếp sinh hoạt gia đình đang khiến trẻ học tập, giải trí, giao tiếp đều qua thiết bị điện tử, trong khi thời gian vận động ngoài trời, tiếp xúc thiên nhiên ngày càng ít.

Đáng lo, nhiều trẻ tiếp cận thiết bị điện tử từ rất sớm, khi còn đang bò, bế ngửa, ăn dặm đã được người lớn cho xem điện thoại để dỗ ăn, dỗ khóc. Điều này cho thấy nguy cơ cận thị liên quan chặt chẽ nếp sinh hoạt trong từng gia đình.

Tuy nhiên, bà Thúy nhấn mạnh: "Không thể đổ lỗi cho công nghệ và cũng không thể cấm trẻ dùng công nghệ. Vấn đề là gia đình, nhà trường chưa hướng dẫn đủ kỹ năng sử dụng thiết bị số an toàn, hiệu quả". Bà lưu ý, khi trẻ lệ thuộc vào điện thoại, hệ lụy không dừng ở sức khỏe đôi mắt mà còn có thể tác động đến sức khỏe tinh thần.

Ở góc độ tâm lý học, nghiên cứu sinh, thạc sĩ Nguyễn Hải Uyên, Hội Tâm lý trị liệu VN, cho biết thiết bị điện tử đã trở thành phương tiện học tập, làm việc, giao tiếp và kết nối xã hội. Không nên xem màn hình là "kẻ xấu", điều cần quan tâm là cách trẻ sử dụng thiết bị và khả năng tự dừng lại.

Bà Uyên phân tích trẻ dễ bị cuốn vào thiết bị số vì các ứng dụng duy trì sự chú ý bằng thông báo, lượt thích, video ngắn, nội dung cá nhân hóa. Trong khi đó, vùng não kiểm soát hành vi và tự chủ của trẻ vẫn đang phát triển nên các em khó dừng lại hơn người trưởng thành.

Ngoài ra, thiết bị số cũng đáp ứng những nhu cầu tâm lý có thật như giải trí, kết nối bạn bè, giảm căng thẳng. Nếu các nhu cầu này chưa được đáp ứng ngoài đời sống, trẻ càng dễ gắn bó với màn hình. Khi điện thoại thường xuyên được dùng để dỗ trẻ lúc buồn, khóc, chán hoặc quấy, trẻ sẽ dần học rằng màn hình là cách nhanh nhất để điều chỉnh cảm xúc.

Người lớn phải làm gương

Từ góc độ gia đình, TS Thúy cho rằng để giảm cận thị, cha mẹ cần làm gương trong sử dụng thiết bị điện tử an toàn, dành thời gian chơi với con ngoài trời, đưa con đi khám mắt định kỳ và quan tâm bữa ăn của trẻ.

Còn theo bà Uyên, không nên cấm tuyệt đối trẻ sử dụng điện thoại vì có thể tăng tò mò hoặc gây xung đột. Giải pháp hiệu quả hơn là cha mẹ cùng con xây dựng nguyên tắc rõ ràng, không dùng thiết bị điện tử trong bữa ăn, trước giờ ngủ. "Nếu người lớn luôn cầm điện thoại nhưng lại yêu cầu con không dùng điện thoại thì trẻ sẽ rất khó hợp tác", bà nói.

Bà Uyên khuyên cha mẹ cần giúp trẻ tạo những "điểm dừng". Sau 30 - 45 phút học hoặc chơi trên màn hình, trẻ nên đứng dậy, vận động vài phút, nhìn xa hoặc ra ngoài trời. Trẻ cần hoạt động thay thế đủ hấp dẫn như chơi thể thao, gặp bạn bè, khám phá sở thích mới.

Phòng ngừa cận thị: chuyện không của riêng ai

Theo TS Phạm Thị Thúy, giảng viên Học viện Chính trị khu vực II, phòng ngừa cận thị là câu chuyện đa ngành. Ở nhà trường, cần rà soát thời khóa biểu, giảm áp lực học tập, bảo đảm học sinh có thời gian hoạt động ngoài trời, nghỉ ngơi, thư giãn; cần cân nhắc việc sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, tránh chạy theo chuyển đổi số hay ứng dụng AI mà bỏ quên sự cân bằng trong học tập và vui chơi của trẻ.Đồng thời, ngành giáo dục cần cân đối thời gian, lượng kiến thức, cách dạy và cách học; ngành y tế cần tăng cường phối hợp ngành giáo dục khám, sàng lọc thị lực, truyền thông cho phụ huynh, học sinh. Ở góc độ quản lý nhà nước, cần tạo đủ môi trường vui chơi cho trẻ như công viên, cây xanh, sân chơi, khu thể thao cộng đồng để trẻ được vận động, tiếp xúc gần thiên nhiên.

Read Entire Article