Đại tướng Lương Tam Quang: Không để xã hội giàu vật chất, nghèo văn hóa

2 hours ago 6

Đại tướng Lương Tam Quang cho rằng phát triển kinh tế phải hài hòa với văn hóa, con người, lấy chất lượng sống, hạnh phúc và niềm tin của người dân làm thước đo.

Sáng 29/7, tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 khóa 14, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an, trình bày chuyên đề về Chiến lược An ninh quốc giaNghị quyết xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.

Theo ông, Nghị quyết xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển yêu cầu bảo đảm cân đối giữa phát triển kinh tế với văn hóa, con người, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội. Việc phát triển nhanh, bền vững phải đi đôi với giữ ổn định xã hội, không đánh đổi trật tự, kỷ cương, công bằng, môi trường và các giá trị văn hóa để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Nghị quyết cũng đặt mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe, niềm tin và hạnh phúc của người dân, "không để xã hội giàu về vật chất nhưng nghèo về văn hóa, đạo đức và các giá trị nhân văn".

Theo Bộ trưởng Công an, đây là văn bản chiến lược đầu tiên của Đảng về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Nghị quyết xác định xây dựng xã hội là một trụ cột của mô hình phát triển đất nước, thay vì chỉ coi đây là kết quả của tăng trưởng kinh tế.

Trọng tâm là xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới có lý tưởng, lòng yêu nước, trách nhiệm công dân, khát vọng cống hiến và khả năng thích ứng với xã hội hiện đại. Pháp quyền, đạo đức và niềm tin xã hội phải gắn kết chặt chẽ, từng bước hình thành "trật tự tự thân", trong đó mỗi người tự giác điều chỉnh hành vi theo pháp luật, đạo đức, văn hóa và trách nhiệm xã hội.

Bộ trưởng Công an Lương Tam Quang phát biểu tại hội nghị sáng 29/7. Ảnh: Giang Huy

Bộ trưởng Công an Lương Tam Quang phát biểu tại hội nghị sáng 29/7. Ảnh: Giang Huy

Nghị quyết cũng yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý xã hội sang quản trị và kiến tạo xã hội; lấy người dân làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật làm trụ cột, kỷ cương làm sức mạnh, khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm động lực, niềm tin xã hội làm thước đo, hạnh phúc của người dân làm mục tiêu cao nhất.

Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới bảo vệ con người, bảo đảm người dân được sống trong môi trường an toàn, khỏe mạnh, nhân văn, có cơ hội phát triển và thụ hưởng công bằng thành quả phát triển.

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu cơ bản tạo lập nền tảng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Văn hóa thượng tôn pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử; 100% cán bộ, đảng viên thực hành văn hóa Đảng và văn hóa công vụ.

Toàn quốc phấn đấu mỗi năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; ít nhất 50% địa bàn cấp xã và 20% địa bàn cấp tỉnh không có ma túy. Việt Nam hướng tới nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN và 50 nước dẫn đầu thế giới về Chính phủ điện tử, Chính phủ số; thuộc nhóm 15 quốc gia dẫn đầu về chỉ số an ninh mạng toàn cầu.

Chỉ số hài lòng của người dân với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước bình quân cả nước đạt trên 88%. Hệ thống giáo dục phải bảo đảm đủ lớp, trường, giáo viên, sách giáo khoa và thiết bị dạy học tối thiểu; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông hoặc tương đương.

Nghị quyết đặt mục tiêu 100% người dân được khám sức khỏe hằng năm, hướng tới cơ bản miễn viện phí toàn dân; tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%. Ít nhất 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; trên 95% hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa và trên 90% tổ dân phố, thôn đạt danh hiệu văn hóa một cách thực chất.

Chỉ số phát triển con người đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh ít nhất 68 năm. Việt Nam phấn đấu vào nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất. Đến năm 2045, pháp luật, đạo đức, văn hóa, trách nhiệm công dân và ý thức cộng đồng sẽ trở thành nền tảng điều chỉnh hành vi. An ninh con người được bảo đảm toàn diện, mọi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và được thụ hưởng công bằng thành quả phát triển.

Ba nhóm giải pháp đột phá được xác định gồm xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, văn hóa Đảng, văn hóa công vụ và kỷ cương xã hội; xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới; phát triển nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo từ cơ sở.

An ninh phải kiến tạo phát triển

Về Chiến lược An ninh quốc gia, Đại tướng Lương Tam Quang cho biết sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội 13 và 7 năm triển khai Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng, thuộc nhóm nước hàng đầu thế giới về hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn. Tuy nhiên, an ninh cơ sở chưa vững chắc; việc bảo đảm an ninh trên các không gian mới như tầm thấp, vũ trụ, biển, đại dương và không gian ngầm cơ bản chưa được triển khai.

Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo và công nghệ lượng tử làm thay đổi nội hàm an ninh cũng như phương thức bảo vệ an ninh. Chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức, chiến tranh thương mại và các mối đe dọa tổng hợp ngày càng hiện hữu.

Với vị trí địa chiến lược quan trọng, nguồn tài nguyên phong phú và vị thế quốc tế ngày càng cao, Việt Nam trở thành "trọng tâm của trọng tâm" trong cạnh tranh nước lớn. Sức ép an ninh từ bên ngoài và các không gian mới vì thế ngày càng gia tăng.

Chiến lược mới xác định giữ vững an ninh quốc gia là điều kiện tiên quyết để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. An ninh phải kiến tạo nguồn lực, động lực mới cho phát triển; phát triển đến đâu, bảo vệ an ninh đến đó và không đánh đổi an ninh lấy tăng trưởng.

Phạm vi bảo vệ an ninh được mở rộng từ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ, thể chế và chủ quyền quốc gia sang toàn bộ những yếu tố cấu thành năng lực phát triển, bảo đảm hệ thống kinh tế, xã hội và công nghệ vận hành ổn định.

Nghị quyết xác định an ninh chế độ là trọng yếu; an ninh văn hóa tư tưởng, thông tin truyền thông đặc biệt quan trọng; an ninh kinh tế, năng lượng, môi trường, nguồn nước và lương thực là cơ sở; an ninh mạng, dữ liệu và công nghệ là trung tâm; an ninh con người là mục đích.

Tư duy bảo vệ an ninh cũng chuyển từ bảo vệ từng lĩnh vực sang bảo vệ toàn hệ thống, từ quản lý từng nguy cơ sang quản trị sự tương tác giữa các nguy cơ. Mục tiêu là không để rủi ro vượt ngưỡng kiểm soát, khủng hoảng lan rộng và trở thành tổn thất chiến lược.

Trong 7 mục tiêu cụ thể, Nghị quyết yêu cầu bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn lãnh tụ, yếu nhân; tăng cường bảo vệ cán bộ cấp chiến lược và đội ngũ tinh hoa, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ.

Việt Nam sẽ xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân hiện đại, đa tầng, liên hoàn; tăng năng lực ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, tình huống khủng hoảng và hình thái xâm phạm an ninh mới.

Nghị quyết đặt mục tiêu tự chủ chiến lược về an ninh; xây dựng công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại. Đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành cải cách quản trị quốc gia hiện đại, lấy người dân làm trung tâm; xây dựng lực lượng Công an nhân dân và lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Việc chuyển đổi sang mật mã kháng lượng tử cho hạ tầng số trọng yếu sẽ được hoàn thành cùng với xây dựng mạng chủ quyền quốc gia, bảo vệ mạng lưới truyền thông và hệ thống dữ liệu bằng mật mã kháng lượng tử.

Đến năm 2045, năng lực của hệ thống an ninh quốc gia được phát triển toàn diện; an ninh được bảo vệ từ sớm, từ xa trên mọi lĩnh vực, không gian và trở thành nguồn lực, động lực cho phát triển. Năng lực bảo vệ an ninh con người thuộc nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới, tạo nền tảng xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa.

Bộ Chính trị đã ban hành hai chương trình hành động với 79 và 59 nhiệm vụ cụ thể để thực hiện hai nghị quyết, theo phương châm 6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.

Vũ Tuân

Read Entire Article