
Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội học tập tại Hòa Lạc - Ảnh: VNU
Việc tạo cơ hội cho người học tốt nghiệp, tham gia thị trường lao động sớm hơn, giảm gánh nặng tài chính cho gia đình mà vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo là cần thiết.
Nhưng nếu chỉ xem đây là giải pháp tiết kiệm thời gian và chi phí thì vấn đề mới chỉ được tiếp cận ở "phần ngọn". Quan trọng hơn là thay đổi triết lý giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo bằng năng lực của người học sau khi tốt nghiệp.
Lâu nay số năm học là một thước đo mặc định của giáo dục đại học. Người học phải trải qua 4, 5 hay 6 năm học mới được ra trường. Trong khi xu hướng mới, công nghệ phát triển rất nhanh làm biến đổi mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, cách tiếp cận đó trở nên lạc hậu.
Các nền tảng học tập trực tuyến, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu mở và các nguồn học liệu trực tuyến toàn cầu đang làm thay đổi căn bản cách thức tiếp cận tri thức. Nhiều kỹ năng nghề nghiệp được hình thành từ các dự án thực tế, môi trường doanh nghiệp, các chương trình thực tập hay hoạt động nghiên cứu nhiều hơn là từ những bài giảng lý thuyết truyền thống.
Điều thị trường lao động cần không đơn thuần là những người có bằng cấp mà là người có năng lực thích ứng, sáng tạo, giao tiếp tốt, làm việc nhóm, biết sử dụng công nghệ và học tập suốt đời.
Vì vậy khi sinh viên có đủ năng lực để hoàn thành chuẩn đầu ra sớm hơn thì không nên bị ràng buộc bởi một khung thời gian cứng nhắc. Đào tạo theo năng lực thay vì đào tạo theo thời gian đang trở thành xu hướng của nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Song nếu chỉ đơn thuần cho phép sinh viên ra trường sớm mà chương trình vẫn nặng lý thuyết, nội dung vẫn trùng lặp, phương pháp giảng dạy vẫn thiên về truyền đạt một chiều và cách đánh giá vẫn chủ yếu dựa trên thi cử thì rất khó tạo ra sự thay đổi thực chất.
Rút ngắn thời gian đào tạo chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo.
Các trường đại học cần rà soát lại toàn bộ chương trình đào tạo theo hướng tinh gọn, gắn với thực tiễn. Những học phần nặng về cung cấp kiến thức nền tảng có thể được tổ chức dưới hình thức học tập trực tuyến, tự học có hướng dẫn hoặc học liệu số.
Nhà trường cần dành nhiều thời gian hơn cho những hoạt động mà công nghệ khó có thể thay thế như phát triển tư duy phản biện, kỹ năng nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm thực tiễn và kết nối doanh nghiệp.
Đồng thời hệ thống kiểm định chất lượng cũng phải thay đổi theo hướng đánh giá kết quả đầu ra, thay vì chỉ kiểm soát thời lượng đào tạo. Điều quan trọng không phải sinh viên học bao nhiêu năm mà là sau khi tốt nghiệp họ làm được gì.
Tất nhiên không phải ngành nghề nào cũng có thể rút ngắn thời gian đào tạo một cách cơ học. Các ngành đặc thù như y khoa, luật, kiến trúc hay nghệ thuật vẫn cần bảo đảm thời gian tối thiểu.
Song những ngành này vẫn có dư địa giảm thời gian các môn học không chuyên bằng cách tăng cường ứng dụng công nghệ số, học tập trực tuyến và cá thể hóa lộ trình học tập. Một bác sĩ muốn hành nghề vẫn phải tiếp tục đào tạo chuyên sâu và được cấp chứng chỉ hành nghề.
Một cử nhân luật muốn trở thành luật sư, công chứng viên hay đảm nhiệm các chức danh tư pháp cũng phải trải qua đào tạo nghề nghiệp chuyên biệt. Trong xã hội học tập, học tập suốt đời mới là năng lực quan trọng nhất.
Đề xuất thay đổi Quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo không chỉ là câu chuyện giảm số năm học mà còn là cơ hội để thúc đẩy đổi mới sâu sắc hơn đối với giáo dục đại học Việt Nam.
Thang đo đại học cần được đo bằng chính năng lực mà người học tích lũy được và giá trị họ có thể tạo ra cho xã hội sau khi tốt nghiệp chứ không phải là số năm ngồi ở giảng đường.






