
Nguồn hình ảnh, Getty Images
Được đăng 10 tháng 6 2026, 12:44 +07
Cập nhật 4 phút trước
Thời gian đọc: 11 phút
Cuối tháng 5, dự án Công viên công cộng phường Phú Thượng chính thức khởi công, đánh dấu bước khởi động của đại dự án trục cảnh quan sông Hồng có quy mô hơn 11.000ha, kéo dài 80km và tổng vốn đầu tư gần 737.000 tỷ đồng.
Đây chỉ là một trong hàng chục công viên thuộc siêu dự án, nơi hai đại lộ rộng thênh thang cùng hàng loạt khu đô thị hiện đại sẽ hình thành trong cuộc đại tái thiết, hứa hẹn khoác lên thủ đô một diện mạo hoàn toàn mới.
Nhưng phía sau bản thiết kế về siêu đô thị hiện đại đó là những thấp thỏm lo âu về các di sản và ký ức về những ngôi chùa cổ, làng nghề và cả một nền văn minh sông nước đã tồn tại hàng ngàn năm sẽ biến mất.
Hơn 70.000 hộ dân với hơn 247.000 người – tức gần 3% dân số thủ đô – sẽ phải "hy sinh" cho cuộc đại phẫu đô thị lớn nhất trong hàng chục năm qua mà chính quyền Hà Nội thực hiện.
"Việc di dời khoảng 3% dân số của Hà Nội không đơn thuần là một bài toán quy hoạch mà còn là một bài toán xã hội, kinh tế và văn hóa có quy mô rất lớn. Những dự án di dời quy mô lớn thường kéo theo nhiều rủi ro như mất sinh kế, mất mạng lưới xã hội, suy giảm khả năng tiếp cận việc làm và đứt gãy các giá trị văn hóa cộng đồng nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng," kiến trúc sư Trần Thị Quỳnh Hương ở TP HCM nhận định.
Việc giải tỏa trắng và di dời các cộng đồng cư dân lâu đời, cùng hệ thống đình, đền, chùa, miếu và làng nghề truyền thống, đang làm dấy lên lo ngại về sự mất mát không chỉ sinh kế hay di sản vật thể, mà cả ký ức cộng đồng và các cấu trúc văn hóa và tâm linh đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Các chuyên gia cho rằng nếu quy hoạch đúng hướng, đây có thể trở thành một dự án hạ tầng – môi trường trọng điểm.
Trên thế giới, nhiều thành phố như Seoul với Cheonggyecheon hay London với bờ sông Thames đã phục hồi sông đô thị thành công, không chỉ cải thiện cảnh quan mà còn giảm đảo nhiệt, cải thiện khí hậu và mở rộng không gian công cộng, nâng cao chất lượng sống.
Nhưng một câu hỏi được đặt ra: Liệu không gian ven sông có thực sự trở thành tài sản chung của cộng đồng hay sẽ chủ yếu phục vụ các dự án bất động sản cao cấp?
Dù được kỳ vọng tạo nên "kỳ tích sông Hồng" và nâng cao chất lượng sống đô thị, thực tế cho thấy tiếng nói của người dân trong khu vực bị ảnh hưởng vẫn chưa thực sự được lắng nghe đầy đủ.
Hồi cuối tháng 3, UBND TP Hà Nội ghi nhận hơn 8.300 phiếu ý kiến từ các cộng đồng dân cư, phần lớn kịch liệt phản đối phương án dự kiến sẽ giải tỏa trắng và buộc hàng trăm ngàn người phải di dời.
Làn sóng phản đối diễn ra mạnh mẽ tại các khu vực như phường Hồng Hà, Tứ Liên, Bồ Đề... khi người dân cho rằng việc phá bỏ các khu dân cư hợp pháp để nhường chỗ cho dự án thương mại là hành vi tước đoạt sinh kế và môi trường sống, đồng thời dồn họ vào những khu tái định cư chật hẹp là điều không thể chấp nhận.
Bằng những băng rôn đỏ phủ khắp làng, người dân làng cổ Thúy Lĩnh ở phường Lĩnh Nam bày tỏ mong muốn được gìn giữ quê hương tổ tiên và phát triển theo mô hình "làng trong phố, phố trong làng", thay vì bị xóa sổ bởi đô thị hóa.
Những người cao tuổi ở làng cổ Phúc Xá ở phường Bồ Đề – vốn có lịch sử hơn ngàn năm – lo sợ rằng nếu buộc phải di dời toàn bộ, cấu trúc dòng tộc và sợi dây liên kết cộng đồng bền chặt bao đời nay sẽ tan rã hoàn toàn.
Ngay cả khi giữ lại được đình làng, chùa chiền, thì tính "linh hồn" cũng nằm trong nỗi lo của nhiều người – khi những dòng họ gắn với di tích kia thì không còn đó nữa.
"Những giá trị này rất mong manh. Một khi cư dân gốc bị di dời hàng loạt, cấu trúc cộng đồng bị phá vỡ hoặc không gian sống bị thay thế hoàn toàn bởi các dự án thương mại đồng nhất, phần 'hồn' của di sản cũng biến mất, dù đình chùa hay cổng làng có còn được giữ lại," kiến trúc sư Sơn Đặng từ Việt Nam nhận định.
Dọc sông Hồng, các làng truyền thống vẫn lưu giữ rõ nét cấu trúc không gian bản địa với đình, chùa, đền thủy thần, cổng làng, cùng hệ thống giếng, bến sông và ngõ xóm gắn chặt với địa hình bãi bồi.
Những vùng sản xuất lâu đời như Bát Tràng hay Nhật Tân không chỉ là không gian kinh tế mà còn là cảnh quan văn hóa đặc sắc. Ở đó, sinh kế, cấu trúc cư trú và thiết chế văn hóa hòa quyện, liên tục được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Kiến trúc sư Sơn Đặng cho rằng giá trị cốt lõi không nằm ở từng công trình riêng lẻ, mà ở tổng thể cấu trúc không gian đã hình thành và tiến hóa tự nhiên qua hàng trăm năm.
"Nhưng điều quý giá hơn cả có lẽ nằm ở phần di sản phi vật thể – thứ khó đo đếm bằng tiền và cũng dễ biến mất nhất khi đô thị hóa diễn ra quá nhanh."
Dưới những mái nhà cũ đó là các giá trị tinh thần khó có thể quy đổi bằng giá thị trường – làng nghề, làng văn hóa, phong tục, tập quán, cộng đồng dân cư chia sẻ chung nếp sống,...
"Một trong những điều quan trọng nhất của quy hoạch đô thị là công tác bảo tồn ký ức," một kiến trúc sư nói với BBC trong điều kiện ẩn danh.
Quy hoạch không chỉ là bài toán vật thể

Nguồn hình ảnh, UBND Hà Nội
"Việt Nam hiện ở đúng 'điểm giữa' mà Trung Quốc từng trải qua khoảng 20-30 năm trước: tăng trưởng hạ tầng rất nhanh, đại dự án rất lớn, dịch chuyển dân cư khổng lồ, đất đai là động lực tài chính mạnh, nhưng cơ chế phản biện xã hội còn yếu," kiến trúc sư Sơn Đặng bình luận với BBC News Tiếng Việt.
Ông cho rằng, sau những hệ lụy của giai đoạn phát triển nóng, Trung Quốc đã chủ động thiết lập cơ chế phát hiện sớm bất mãn để ngăn xung đột bùng phát thành khủng hoảng.
Theo ông Sơn, quá trình này được triển khai bài bản qua lấy ý kiến trực tuyến, công khai đề án, tiếp dân tập trung, phân tích dữ liệu mạng xã hội và cho phép báo chí điều tra trong phạm vi kiểm soát.
Tất cả nhằm "đo nhiệt" dư luận và tối đa hóa đồng thuận trước khi quyết định phương án cuối cùng.
"Đây là một bài học rất quan trọng cho Việt Nam: Trung Quốc không trao quyền phủ quyết cho xã hội dân sự như phương Tây, nhưng họ tạo hệ thống 'cảm biến xã hội' để nhà nước biết khi nào chính sách có nguy cơ thất bại, và lập tức 'sửa sai'!"
Chính quyền Hà Nội dường như thiếu "cảm biến xã hội" trong dự án này.
Không khó để tìm thấy các băng rôn phản đối việc giải tỏa, di dời được treo trên các khung cửa, tường nhà của người dân các thôn xóm hai triền sông đang bị giải tỏa.
"Khi xã hội vận động, hy sinh là điều không thể tránh khỏi, thế nhưng điều quan trọng nhất là sự đồng thuận giữa chính quyền với người dân, và đây là điểm yếu cố hữu trong quy hoạch đô thị ở Việt Nam," một kiến trúc sư chuyên về bảo tồn di sản, bình luận với BBC với điều kiện ẩn danh.
Ông cho rằng để giảm thiểu xung đột và nâng cao hiệu quả của các đồ án quy hoạch, việc thay đổi cách thức đối thoại với người dân là yêu cầu cấp bách.
"Thay vì áp đặt một chiều từ trên xuống hoặc thực hiện công tác truyền thông mang tính hình thức, chính quyền cần xem người dân là một đối tác trong quá trình phát triển."
Và bài toán quy hoạch đô thị, không chỉ đơn giản nằm ở việc thay những căn nhà cũ, thay những con phố nhỏ bằng đường sá khang trang, cao ốc hiện đại.
Các làng ven sông Hồng được xem là nơi lưu giữ ký ức của nền văn minh sông nước Bắc Bộ, từ Bồ Đề gắn với tuyến giao thương cổ đi Hải Dương, Kinh Bắc đến Yên Mỹ (Thanh Trì) với nghề dâu tằm và câu ca dao "Lúa làng Ngâu, trâu Yên Mỹ", hay các làng Đại Liên, Tứ Liên.
Theo ông Sơn Đặng, nền văn minh này còn thể hiện qua lễ hội làng, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ thành hoàng gắn với nghề nghiệp và trị thủy, cùng hệ thống chợ ven sông, tập quán canh tác đất bãi, ẩm thực, phương ngữ và kinh nghiệm dân gian ứng phó lũ lụt.
"Đây không chỉ là 'văn hóa dân gian' theo nghĩa biểu diễn, mà là một hệ sinh thái tri thức bản địa hình thành qua nhiều thế kỷ chung sống với con sông và tiếp tục vận hành, thay đổi và thích nghi cùng đời sống cộng đồng."
Tại Phúc Tân, các hoạt động cộng đồng diễn ra đa dạng, từ hội thi chim hót dân dã đến các sự kiện quy mô như tham quan, trình diễn thời trang gắn với không gian nghệ thuật đường phố.
Song song đó là đời sống tín ngưỡng, với Đền Sơn Hải giữ vai trò là điểm tựa tâm linh của khu vực.
Ngoài ra, tại khu vực con đường nghệ thuật, hoạt động phóng sinh diễn ra thường xuyên đã trở thành một điểm hẹn tâm linh quen thuộc, thu hút cả cư dân địa phương lẫn người từ nơi khác đến tham gia.
Theo khuyến nghị của UNESCO, di sản đô thị, bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể, là nguồn lực quan trọng để nâng cao chất lượng sống, thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng cường gắn kết xã hội trong bối cảnh đô thị toàn cầu biến động mạnh.
Ngoài ra, tại khu vực con đường nghệ thuật, hoạt động phóng sinh diễn ra thường xuyên đã trở thành một điểm hẹn tâm linh quen thuộc, thu hút cả cư dân địa phương lẫn người từ nơi khác đến tham gia.
Trong bối cảnh nhiều siêu đô thị châu Á đã xóa sổ các làng cổ ven sông trong quá trình hiện đại hóa, hệ thống làng bãi bồi sông Hồng được xem là một dạng di sản đô thị sống hiếm hoi.
Theo kiến trúc sư Sơn Đặng, thay vì bị nhìn nhận phiến diện như "nhảy dù" hay đất không sổ đỏ, khu vực này cần được hiểu như một cấu trúc văn hóa – không gian có giá trị lịch sử và sinh thái đặc biệt.
Nếu Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng chỉ được nhìn như một dự án hạ tầng hay bất động sản quy mô lớn, Hà Nội có thể đánh mất giá trị cốt lõi nhất: chiều sâu văn hóa sống của hệ thống làng ven sông, ông Sơn Đặng cảnh báo.
Kiến trúc sư Hương cho biết nhiều khu phố cổ ở Đức, Pháp, Ý vẫn giữ được đời sống kinh tế năng động song song với bảo tồn kiến trúc và bản sắc hàng trăm năm, nhờ quy hoạch dài hạn, luật bảo tồn nghiêm ngặt và sự tham gia của cộng đồng.
"Với khu vực ven sông Hồng, điều quan trọng không chỉ là bảo tồn một vài công trình kiến trúc riêng lẻ mà còn phải nhận diện và gìn giữ các giá trị văn hóa phi vật thể, các làng nghề, các tập quán sinh hoạt và mạng lưới cộng đồng đã hình thành qua nhiều thế hệ. Nếu chỉ bảo tồn 'vỏ kiến trúc' mà làm mất đi cộng đồng cư dân gốc, chúng ta có thể đánh mất phần hồn của di sản," bà Hương nói.

Bài toán giãn dân
Một trong những lý do được đưa ra khi triển khai đại dự án này là nhằm giảm tải áp lực giao thông nội đô, thúc đẩy liên kết vùng giữa Hà Nội với các tỉnh lân cận.
Ông Sơn Đặng lấy Tokyo là một ví dụ.
Tokyo đã dành nhiều thập kỷ phát triển các đô thị vệ tinh đồng bộ với nhà ở, dịch vụ công cộng và hệ thống giao thông hiện đại, giúp người dân sống xa trung tâm vẫn đi lại thuận tiện và tận hưởng chất lượng sống cao hơn.
Từ mô hình này, ông Sơn Đặng cho rằng Hà Nội có thể huy động nguồn lực công – tư để xây dựng mạng lưới giao thông kết nối diện rộng như metro và skyrail, qua đó thúc đẩy giãn dân một cách bền vững.
Mạng lưới này kết nối trực tiếp lõi đô thị với các vùng vệ tinh như Hòa Lạc, Đông Anh.
Khi doanh nghiệp dịch chuyển nhờ ưu đãi về giá thuê, thuế và hạ tầng, các khu đô thị vệ tinh sẽ dần hình thành sức sống ban đầu.
Từ đó, quỹ đất và hạ tầng sẵn có sẽ trở thành động lực tự nhiên thúc đẩy người dân nội đô chuyển ra ngoại vi để có chất lượng sống tốt hơn.
"Nguyên tắc chung của đô thị học là không bao giờ cố 'giải nén' đô thị chỉ bằng một dự án khổng lồ trong thời gian ngắn. Thay vào đó, các chính quyền cần lên kế hoạch phát triển đô thị vệ tinh chất lượng, và khi người dân thật sự muốn chuyển đi, việc giãn dân mới gọi là thành công," ông Sơn Đặng nhận định.
Kiến trúc sư Trần Thị Quỳnh Hương nói rằng nước Đức phát triển theo mô hình đa cực (polycentric development), trong đó Berlin, Munich, Hamburg, Frankfurt hay Cologne cùng chia sẻ vai trò động lực kinh tế thay vì tập trung quá mức vào một siêu đô thị duy nhất.
Bà Hương nói thêm rằng nước Anh cũng từng thực hiện chính sách phân tán một số cơ quan công quyền ra ngoài London nhằm giảm áp lực về dân số và giá nhà.
"Đối với Hà Nội, việc giãn dân và phân bổ lại các chức năng hành chính, giáo dục, nghiên cứu hoặc công nghiệp công nghệ cao sang các địa phương lân cận như Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc hay Hòa Bình là hướng đi đáng cân nhắc," bà Hương nói.
Tuy nhiên, kiến trúc sư này cho rằng điều kiện tiên quyết là phải phát triển hệ thống giao thông công cộng hiệu quả trong đó có metro, đường sắt và các tuyến liên kết nội tỉnh.







