'Tuyệt kỹ' nào của người Việt Nam khiến quân lính, sử quan nhà Thanh khiếp vía?

6 hours ago 15

 - Ảnh 1.

Kỹ năng thủy chiến của người Việt Nam được nhắc đến nhiều vào thời nhà Thanh - Ảnh minh họa

Kỹ năng chiến đấu dưới nước của người Việt Nam được nhắc đến khá nhiều trong các thư tịch cổ, thậm chí trở thành đề tài nghiên cứu quân sự dưới triều Thanh.

Tuyệt kỹ dưới nước của người Việt Nam trong sử sách Trung Quốc

"Hàng trăm chiếc thuyền nhỏ bất ngờ xuất hiện khi tàu lớn của người phương Tây bị gió đẩy vào vịnh Quảng Nam. Từ những chiếc thuyền ấy, các chiến binh mang ống tre, dây nhỏ bí mật lặn xuống nước, tiếp cận đáy tàu đối phương.

Sau khi gắn dây vào thân tàu, họ trở lên thuyền, phối hợp kéo con tàu lớn vào vùng nước cạn rồi phóng hỏa, phục kích" - Đó là kỹ thuật thủy chiến kỳ lạ được Trần Luân Quýnh (Chen Lunjiong), một võ quan từng giữ chức đề đốc thủy sư nhà Thanh, mô tả trong Hải quốc văn kiến lục, quyển thượng, thiên Nam dương ký.

Tác phẩm có lời tựa năm 1730, dành một phần đáng kể giới thiệu vùng biển Đàng Trong dưới quyền các chúa Nguyễn. Trước khi thuật lại cách đánh tàu, Trần Luân Quýnh nhận xét ngắn gọn về cư dân nơi đây: “Nhân thiện một” , nghĩa là người dân nơi đây rất giỏi lặn.

Ông còn kể rằng thủy thủ phương Tây sợ lạc vào vùng biển Quảng Nam đến mức đặt ra những quy định nghiêm ngặt khi điều khiển tàu. Dù chưa xác định được trận đánh cụ thể, ghi chép này cho thấy tiếng tăm về kỹ năng chiến đấu dưới nước của người Việt đã lan tới giới thủy quân Trung Quốc.

Không riêng Trần Luân Quýnh, nhiều tác phẩm khác dưới triều Thanh cũng đề cập khả năng sông nước đặc biệt ấy.

Trong Tục tu Đài Loan phủ chí, quyển 19, mục Ngoại đảo – An Nam, học giả Dư Văn Nghi nhận xét cư dân Việt Nam “hiếu dục, thiện phù thủy”, tức thích tắm gội và giỏi bơi lội. Sách còn mô tả loại thuyền nhỏ đặc biệt của người Việt, không phân biệt rõ đầu đuôi, di chuyển vô cùng linh hoạt, khiến tàu phương Tây phải e ngại.

Tương tự, Hạ Môn chí, quyển 8, thiên Phiên thị lược, mục Nam Dương – Việt Nam, ghi người Việt “khoáng hãn thiện đấu”, nghĩa là mạnh mẽ, dũng mãnh, giỏi chiến đấu. Đặc biệt, sách nhấn mạnh cư dân xứ nóng thường xuyên tắm sông nên quen điều khiển thuyền và giỏi bơi lội.

Đáng chú ý, những nhận xét về khả năng sông nước của người Việt đã xuất hiện từ trước thời Thanh.

'Tuyệt kỹ' nào của người Việt Nam khiến quân lính, sử quan nhà Thanh khiếp vía? - Ảnh 1.

Hải quốc văn kiến lục của tác giả Trần Luân Quýnh, ghi chép về khả năng thủy chiến của người Việt - Ảnh: CTEXT

Trong An Nam chí lược, quyển 1, mục Phong tục, Lê Tắc, người Việt sống trên đất Trung Quốc thời Nguyên, viết: “Thử nhiệt hiếu dục ư giang, cố tiện chu thiện thủy”, nghĩa là khí hậu nóng, người dân thích tắm sông nên thạo thuyền bè, giỏi bơi lội.

Tác phẩm này còn ghi nhận tục thi bơi thuyền trên sông vào dịp Tết Đoan ngọ. Như vậy, ít nhất từ thế kỷ XIV, khả năng bơi lội và những cuộc tranh tài trên mặt nước đã được ghi thành văn bản.

Giữa thế kỷ XIX, trong Hải quốc đồ chí, quyển 84, bài An Nam chiến thuyền thuyết, huyện lệnh Uông Trọng Dương (Wang Zhongyang) nghiên cứu các kiểu thuyền chiến Việt Nam để đề xuất phương án chống hải quân Anh.

Sau khi giới thiệu bốn kiểu thuyền, ông kiến nghị tuyển chọn những người khỏe mạnh, dũng cảm, giỏi lặn, thường xuyên huấn luyện và bố trí tại các cửa biển trọng yếu như Hổ Môn, Hạ Môn, Trấn Hải, Thượng Hải và Thiên Tân.

'Tuyệt kỹ' nào của người Việt Nam khiến quân lính, sử quan nhà Thanh khiếp vía? - Ảnh 2.

Một số chiến công đường thủy thời phong kiến của Việt Nam - Đồ họa: HUY ĐĂNG

Đây là chi tiết đặc biệt: một quan chức nhà Thanh đã đưa kỹ năng bơi lặn vào phương án tổ chức lực lượng chiến đấu, khi tìm hiểu kinh nghiệm thủy chiến từ Việt Nam.

Từ những chiến binh lặn nước đến truyền thống thượng võ của người Việt

Nếu sử sách Trung Quốc ghi nhận tiếng tăm của các chiến binh dưới nước, thì lịch sử Việt Nam cũng lưu giữ không ít dấu ấn về một truyền thống thủy chiến lâu đời.

Trong ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII, nhà Trần có nhiều danh tướng gắn với chiến trường sông nước như: Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản và đặc biệt là Yết Kiêu.

Theo truyền thuyết dân gian vùng Hạ Bì, Yết Kiêu tên thật Phạm Hữu Thế, xuất thân trong gia đình chài lưới, nổi tiếng bơi lặn như đi trên đất bằng. Ông được kể là từng bí mật tiếp cận, phá hoại thuyền chiến quân Nguyên.

Chính sử không ghi chi tiết những cuộc đục thuyền ấy, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển V, có nhắc Yết Kiêu từng kiên trì giữ thuyền tại Bãi Tân để đón Trần Hưng Đạo, giúp vị chủ tướng thoát khỏi sự truy đuổi của quân địch năm 1285.

Một nhân vật khác là Hoàng Tá Thốn, võ tướng thời Trần nổi tiếng trong thần tích địa phương bởi sức khỏe và tài bơi lặn, được nhân dân tôn thờ với danh hiệu Sát Hải đại vương.

Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển V, tháng 2 năm Kỷ Sửu (1289), ghi việc Hoàng Tá Thốn chỉ huy chuyến thuyền đưa Ô Mã Nhi về nước. Theo kế của Trần Hưng Đạo, những người giỏi bơi được bố trí làm phu thuyền, ban đêm bí mật đục thuyền khiến Ô Mã Nhi chết đuối. 

'Tuyệt kỹ' nào của người Việt Nam khiến quân lính, sử quan nhà Thanh khiếp vía? - Ảnh 3.

Sát hải đại vương Hoàng Tá Thốn - Ảnh minh họa

Khác với các bài quyền, côn, đao có tên gọi và hệ thống chiêu thức tương đối rõ ràng, kỹ năng chiến đấu dưới nước của người Việt xưa không được lưu truyền đầy đủ dưới hình thức một môn phái độc lập.

Đó có thể là sự kết hợp giữa bơi đường dài, lặn sâu, nín thở, định hướng theo dòng chảy, điều khiển thuyền, tiếp cận mục tiêu và sử dụng binh khí trong môi trường sông nước.

Nền tảng của những kỹ năng ấy trước hết nằm trong đời sống của cư dân ven sông, ven biển. Những chàng trai lớn lên cùng nghề chài lưới, chèo thuyền, lặn bắt thủy sản vốn đã có lợi thế thể chất và kinh nghiệm sông nước để được tuyển chọn vào thủy quân.

Tại quê hương Yết Kiêu, lễ hội đền Quát ở Hạ Bì còn lưu giữ truyền thống bơi chải, bơi chiềng. Những cuộc thi, những nhịp chèo đồng đội vừa tưởng nhớ vị tướng tài ba, vừa thể hiện tinh thần thượng võ của cộng đồng.

Tục đua thuyền cũng hiện diện ở nhiều vùng quê Bắc Bộ và miền Trung, gắn với việc tưởng niệm các anh hùng, luyện sức bền, khả năng phối hợp và làm chủ phương tiện trên mặt nước.

Việc huấn luyện ấy từng được tổ chức thành quy củ trong quân đội. Đại Nam thực lục, Chính biên đệ nhất kỷ, quyển 20, ghi năm Gia Long thứ hai (1803), nhà vua cho tuyển hàng trăm người chèo giỏi, tập động tác chèo thuyền ngay trên cạn để luyện đội hình. Sử quan giải thích thủy chiến vốn là sở trường trong buổi đầu dựng nghiệp của triều Nguyễn nên thường được thao luyện vào đầu năm.

Từ người lính lặn thời Trần đến những đội thuyền chiến thời chúa Nguyễn, sức mạnh ấy không chỉ nằm ở một tuyệt chiêu bí hiểm. Nó được hình thành từ khả năng làm chủ nước, rèn luyện bền bỉ và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ.

Có lẽ chính sự kết hợp đó đã khiến kỹ năng thủy chiến của người Việt trở thành đề tài được các học giả, võ quan Trung Quốc ghi chép, nghiên cứu và tranh luận suốt nhiều thế kỷ.

Read Entire Article