Nhà giáo Trần Thị Vinh năm nay 85 tuổi, nhưng vẫn nhớ rõ chuyến lội suối, bằng rừng vượt Trường Sơn chi viện cho chiến trường miền Nam năm 1965.
Có mặt trong buổi khai mạc trưng bày tài liệu lưu trữ và kỷ vật của cán bộ đi B do Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ) tổ chức tại Hà Nội hôm 17/7, bà Trần Thị Vinh mặc áo dài xanh, tóc trắng như mây, đôi mắt chăm chú nhìn các giấy tờ cá nhân của mình.
Trong nhiều kỷ vật quý giá của các lớp cán bộ từ Bắc vào Nam, nhà giáo Trần Thị Vinh gìn giữ cẩn thận tờ quyết định điều động đi B, viết tay ngày 14/5/1965, do Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ký. Đó không đơn thuần là quyết định công tác mà là dấu mốc mở ra quãng đời gian khổ xen lẫn vinh quang của bà.
Trong kháng chiến chống Mỹ, chiến trường được gọi bằng các phiên hiệu. Hậu phương miền Bắc là A, chiến trường miền Nam bên kia vĩ tuyến 17 là B. Cán bộ miền Bắc được bổ sung cho miền Nam gọi là đi B. Họ là y bác sĩ, giáo viên, kỹ sư, nhà văn, nghệ sĩ, nhà báo, do Ủy ban Thống nhất Chính phủ quản lý.
Bà Vinh sinh năm 1941 tại Nam Bộ. Cha bà quê ở Thuận Thành (Bắc Ninh), là trí thức được đào tạo dưới thời Pháp. Sau khi giác ngộ cách mạng, ông tham gia hoạt động bí mật và đến năm 1946 quyết định đưa cả gia đình trở về miền Bắc. Ngày ấy, cô bé Trần Thị Vinh mới 5 tuổi, được các chiến sĩ giao liên thay nhau cõng trên lưng, sáu tháng ròng rã mới tới được miền Bắc.
Nhiều năm sau, khi bà nhận lệnh vào Nam, mẹ chỉ nói một câu khiến bà nhớ mãi: "Lần trước con vượt Trường Sơn trên lưng người khác. Lần này con sẽ phải đi bằng chính đôi chân của mình. Con có đi nổi không?".
Nhà giáo Trần Thị Vinh. Ảnh: Giang Huy
Trước khi đi B, bà Vinh là giáo viên Toán - Lý của Trường cấp 3 Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) rồi được cử về Đại học Sư phạm Hà Nội bồi dưỡng chuyên môn. Được học và làm việc với nhiều giáo sư đầu ngành, tương lai của cô giáo 24 tuổi khi ấy rộng mở. Nhưng đến tháng 5/1965, mọi dự định đổi hướng. Căn cứ vào năng lực và phẩm chất, tổ chức quyết định điều động bà đi B.
Cha hy sinh, anh trai đang học ở nước ngoài, ở nhà chỉ còn mẹ cùng ba em nhỏ vẫn đang tuổi ăn học. Bản thân bà cũng từng hy vọng tiếp tục học tập ở nước ngoài. Nhưng khi được hỏi có sẵn sàng nhận nhiệm vụ hay không, bà đồng ý ngay. "Lúc đó tôi chỉ là thanh niên không có gì ngoài sức trẻ. Gia đình tôi đã được Đảng, Nhà nước cưu mang, khi đất nước cần tôi không lùi bước", bà nhớ lại.
Trước lúc lên đường, đoàn được tập luyện hành quân như những người lính thực thụ. Ban đêm, họ bỏ gạch vào balô, buộc cát quanh thắt lưng, đi dép cao su vượt hàng chục cây số. Mỗi buổi tập kết thúc, đôi chân ai cũng sưng đau, phải ngâm nước muối nóng để hôm sau tiếp tục.
Nhưng khi bước vào Trường Sơn, huyết đường mạch chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, họ mới hiểu những tháng ngày tập luyện chỉ là sự chuẩn bị ban đầu. Những con dốc dựng đứng nối tiếp nhau, hết leo núi lại lội suối, nhiều vực sâu chỉ thấy mây trắng phủ kín. Có những đêm xe chở đoàn đi lạc giữa mạng lưới đường quân sự, sáng ra mới biết đã quay gần về điểm xuất phát.
Mỗi người tự mang theo lương thực, đến các trạm giao liên nhận thêm gạo, muối hay lương khô rồi tiếp tục băng rừng. Càng đi sâu, cuộc sống càng trở nên tối giản.
Bộ hồ sơ đi B của nhà giáo Trần Thị Vinh được trưng bày tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3. Ảnh: Giang Huy
Một buổi nghỉ chân giữa rừng, bà Vinh tranh thủ đi dạo vào khu rừng vắng thì phát hiện chiếc võng được mắc giữa hai cây cao. Trên võng là bộ hài cốt trong quần áo bộ đội đang ôm khẩu súng AK han gỉ ngang ngực. Không ai biết chiến sĩ ấy, đã nằm đó bao lâu. Bà đoán có lẽ anh bị sốt rét, kiệt sức, không theo kịp đồng đội. Anh cố lết vào rừng, mắc võng lên rồi nằm xuống và không bao giờ dậy nữa.
"Lúc ấy tôi tự hỏi nếu một ngày mình kiệt sức và tụt lại phía sau, liệu mình có giống như chiến sĩ kia không?", bà chia sẻ.
Tháng 5/1966, khi đoàn đã tiến gần chiến trường Nam Bộ, bom bất ngờ trút xuống. Mọi người đang sinh hoạt thì tiếng máy bay ập đến, tất cả vội lao xuống hầm trú ẩn. Sau trận bom, một cán bộ hy sinh để lại vợ và con nhỏ ngoài Hà Nội.
Với cán bộ đi B như bà Vinh, việc băng rừng, vượt suối và đối mặt với bom đạn, muỗi vắt khiến bản thân kiệt quệ. Nhưng chứng kiến người giao liên cơm không đủ no, ngủ không đủ giấc, trên vai luôn khoác súng AK để bảo vệ, dẫn từng đoàn cán bộ vượt Trường Sơn, bà lại tự nhủ hy sinh của bản thân chưa là gì.
Đi cùng họ lâu ngày, bà cũng quen với cách chỉ đường rất riêng. Hỏi bao giờ tới trạm kế tiếp, họ chỉ cười rồi nói bằng tiếng Kinh còn chưa sõi: "Khắc đi, khắc đến". Hoặc họ bảo cứ đi đến khi chiếc khăn nhúng nước, vắt khô rồi lại ướt ba, bốn lần thì sẽ tới. Không ai đo quãng đường bằng cây số, thời gian được tính bằng những chặng nghỉ giữa rừng để tiếp nước.
Bộ hồ sơ đi B của nhiều cán bộ được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3. Ảnh: Giang Huy
Điều bà lo sợ nhất cũng đến. Một cơn sốt rét ác tính quật ngã bà giữa Trường Sơn, buộc bà phải nằm lại trạm giao liên gần nửa tháng. Thuốc men khan hiếm, có lúc kiệt sức đến mức không bước nổi. Có lần bà bò ra đến cầu tiêu từ buổi trưa rồi nằm lịm ở đó cho tới tận chiều tối. Khi tỉnh dậy, điều đầu tiên bà nghĩ tới không phải cơn sốt mà là nỗi sợ rắn độc hay bọ cạp trong rừng.
Những ngày nằm điều trị ở trạm giao liên, bà gặp nhà văn Thép Mới (Hà Văn Lộc) và nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, cũng đang phải nghỉ lại vì bệnh. Nhìn cô gái trẻ bị sốt rét giữa rừng, nhà văn Thép Mới vừa thương vừa trách yêu "đàn bà con gái, ai bắt vào đây làm gì".
Khi sức khỏe dần hồi phục, bà tiếp tục lên đường cùng một đoàn khác. Giữa đại ngàn Trường Sơn, bà có cuộc hội ngộ không ngờ tới. Một cán bộ trẻ trong đơn vị nhìn bà rồi hỏi: "Có phải cô Vinh không?".
Lần lại ký ức, bà nhận ra Lê Quang Mưu, học trò cũ trong thời gian thực tập ở Hà Tĩnh. Người học trò năm nào đã là thiếu úy, trợ lí chính trị viên tiểu đoàn. Anh cho mắc võng, nấu cơm, bố trí người chăm sóc cô giáo cũ như một vị khách đặc biệt.
Tháng 5/1966, sau nhiều tháng băng rừng vượt núi, cô giáo Trần Thị Vinh đặt chân tới Trung ương Cục miền Nam ở Tây Ninh. Đúng lúc đó, quân đội Mỹ mở chiến dịch lớn càn quét căn cứ của cách mạng. Cô giáo trẻ năm nào chính thức khoác trên mình màu áo lính, trở thành phóng viên Báo Quân Giải phóng.
Sau ngày đất nước thống nhất, thiếu úy Trần Thị Vinh rời quân ngũ để trở lại với nghề giáo. Bà công tác tại Sở Giáo dục TP HCM, rồi lần lượt đảm nhiệm cương vị hiệu phó, hiệu trưởng ở nhiều trường phổ thông. Dù từng có cơ hội chuyển sang công việc khác, bà vẫn chọn gắn bó với bục giảng.
Ở tuổi 85, bà Vinh vẫn giữ cẩn thận tờ quyết định điều động viết tay và chiếc giấy thông hành nhỏ mang theo trong chuyến vượt Trường Sơn năm ấy. Sau đó, bà đã tặng Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3 một số giấy tờ cá nhân khi ở miền Nam để cơ quan có thể bảo quản, nghiên cứu trọn vẹn các kỷ vật này.
Sơn Hà








