Nhật Bản tận dụng từng giọt dầu thừa thải ra trong quá trình nấu nướng của hộ gia đình để sản xuất nhiên liệu hàng không, với mục tiêu đạt 10% nguồn cung vào 2030.
Sau khi chiên cà tím, bà Maki Watanabe (Tokyo), đổ dầu ăn còn thừa vào một chai nhựa, chờ gom đến siêu thị gần nhà. Siêu thị này là một trong 300 đơn vị tham gia sáng kiến công - tư "Từ dầu chiên đến bầu trời" (Fry to Fly), nhằm biến dầu thải thành nhiên liệu hàng không trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng do xung đột Trung Đông.
Nhật Bản đặt mục tiêu cung ứng được 10% tổng nguồn cung nhiên liệu hàng không từ nguồn bền vững (SAF), tương đương 1,7 tỷ lít vào năm 2030. SAF là một trong những biện pháp giảm thải của ngành hàng không theo chương trình bù đắp và giảm thải carbon (CORSIA), hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.
Dầu thải là nguyên liệu tương đối rẻ để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Tuy nhiên, loại dầu này từ ngành công nghiệp đã được thu gom gần như toàn bộ. Do đó, những người nội trợ như bà Watanabe trở thành nhân tố quan trọng để cung ứng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất SAF.
Một người dân mang dầu ăn thừa đến điểm thu gom, quận Adachi, Tokyo, Nhật Bản, ngày 18/4. Ảnh: Reuters
Thực tế, năm 2024, Tokyo chỉ thu gom được 160.000 lít dầu ăn thừa. Theo tính toán của Reuters, con số này đủ để sản xuất lượng SAF phục vụ một chiếc Boeing 787 Dreamliner bay trên không trong 17 giờ.
Nhằm tăng tốc khâu thu gom nguồn dầu ăn thừa từ 7,8 triệu hộ gia đình tại thủ đô, cơ quan chức năng đưa ra nhiều sáng kiến về chuỗi cung ứng công - tư, nâng cao nhận thức người dân. Ví dụ, năm ngoái, họ phân phát 13.000 phễu nhựa gắn mã QR, hướng dẫn người dân thu gom đúng cách.
Doanh nghiệp cũng bắt đầu tham gia chương trình gom dầu ăn thừa từ bếp ăn nhân viên. Fujifilm khởi động chương trình này trong năm nay. Các ông lớn bán lẻ Aeon, Ito-Yokado và 7-Eleven bố trí thêm nhiều thùng chứa dầu thải trong khuôn viên.
Tuy nhiên, ngay cả khi mọi giọt dầu ăn thừa đều được tận dụng, khối lượng gom được vẫn ít so với nhu cầu. Với một người thích nấu ăn như bà Watanabe, số dầu thừa tích góp được mỗi năm khoảng 40 lít. UCO Japan, một liên minh các công ty tham gia tái chế dầu thừa, cho biết nếu tỷ lệ thu gom đạt mức tối đa, tổng lượng dầu gom được chỉ khoảng 550 triệu lít, sản xuất được một phần tư lượng SAF theo chỉ tiêu đặt ra.
Một nhân viên công quyền giúp thu gom chai đựng dầu ăn sau sử dụng cho dự án "Fry to Fly", tại quận Adachi, Tokyo, Nhật Bản, ngày 18/4. Ảnh: Reuters
Với Eneos, tập đoàn lọc dầu hàng đầu Nhật Bản, khối lượng thu gom là yếu tố then chốt để họ cân nhắc việc liên doanh với Mitsubishi Corp, hướng tới sản xuất 400 triệu lít SAF sau năm tài chính 2028. Bởi lẽ, sản xuất SAF cần một quy trình phức tạp và tốn kém, từ thu gom, xử lý nguyên liệu đến chưng cất. Nếu nguồn nguyên liệu đầu vào không đảm bảo, việc cam kết sản xuất SAF sẽ tiềm ẩn rủi ro đáng kể cho doanh nghiệp.
Còn đại diện tập đoàn kỹ thuật, công nghiệp JGC cho rằng nhà đầu tư cần triển vọng nhu cầu rõ ràng để mở rộng sản xuất. Năm ngoái, họ cùng tập đoàn năng lượng Cosmo Energy và nhà sản xuất dầu sinh học REVO International khởi công nhà máy SAF quy mô thương mại đầu tiên của Nhật Bản, công suất 30 triệu lít một năm.
Việc tận dụng dầu ăn cũ cho thấy thách thức giảm thiểu carbon với ngành hàng không, một trong những ngành phát thải khí nhà kính lớn nhất toàn cầu. Trường hợp không đạt được mục tiêu sản lượng SAF vào năm 2030 sẽ dẫn đến chi phí cao hơn cho các nhà máy lọc dầu và hãng hàng không. Điều này đồng nghĩa việc cơ sở lọc dầu phải nhập khẩu SAF, nguyên liệu thô đắt đỏ, hoặc hãng hàng không chịu phạt vì không đảm bảo tính bền vững, tạo hiệu ứng dây chuyền lên hoạt động bay.
Phía ANA và Japan Airlines, hai hãng hàng không hàng đầu Nhật Bản, cho biết họ đang "đối mặt với thực tế khắc nghiệt hơn nhiều so với dự kiến" trong lĩnh vực SAF.
Motoomi Suzuki, nhà kinh tế cấp cao tại Viện Nghiên cứu Norinchukin, nhận định trước khi nhiên liệu hàng không sinh học từ ethanol được đưa vào sử dụng thương mại, SAF từ dầu ăn thừa là giải pháp khả thi duy nhất trong tương lai gần.
Bảo Bảo (theo Reuters)







