Biệt thự cổ miền Tây loay hoay 'tìm đường sống'

1 週前 94

Trong hàng trăm dinh thự cổ, chỉ một số căn được trùng tu bài bản, kết hợp làm du lịch giúp người dân có thu nhập ổn định để bảo tồn hiệu quả.

Cuối tháng 5, một nhóm du khách Mỹ được xe điện đưa từ quốc lộ vào tham quan nhà cổ Ông Kiệt ở làng cổ Đông Hòa Hiệp, xã Cái Bè. Giữa vườn cây trái xanh mát, căn nhà mái ngói, vách gỗ năm gian hình chữ đinh rộng khoảng 1.000 m2 vẫn giữ gần như nguyên vẹn dáng vẻ xưa.

"Lần đầu đến đây nhưng chúng tôi rất ấn tượng. Ngôi nhà vẫn bảo tồn được kiến trúc và nhiều chi tiết nguyên bản", du khách Timothy Hammond chia sẻ.

Theo bà Lê Thị Chính, hậu duệ đời thứ năm của gia đình, gần 190 năm trước, ông cố của chồng từ Huế vào Nam lập nghiệp, mang theo căn nhà gỗ tháo rời rồi dựng lại bên rạch Bà Hợp. Qua nhiều thế hệ, con cháu tiếp tục mở rộng và hoàn thiện công trình.

Khi bà Chính về làm dâu gần 40 năm trước, ngôi nhà đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều cột, kèo, vách gỗ mục nát, phải dùng cây chống đỡ để tránh đổ sập mỗi mùa mưa.

Năm 2000, gia đình từng tính phá bỏ nhà cổ để xây nhà mới. Tuy nhiên, sau chuyến khảo sát, các chuyên gia của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) nhận thấy công trình có giá trị kiến trúc Nam Bộ đặc sắc nên đề nghị giữ lại.

Hai năm sau, nhóm chuyên gia của Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) mất gần một năm phục dựng ngôi nhà cùng toàn bộ nội thất theo nguyên trạng. Kinh phí trùng tu khoảng 100.000 USD.

"Ngay cả từng viên ngói cũng được xử lý để giữ màu sắc như cũ", bà Chính nhớ lại.

Sau khi hoàn thành, căn nhà được đưa vào khai thác du lịch. Khoảng 10 năm sau, JICA tiếp tục hỗ trợ 3 tỷ đồng để xây cầu, mở rộng đường và bến tàu phục vụ khách tham quan.

Năm 2020, nhà cổ Ông Kiệt được UNESCO trao giải thưởng Di sản châu Á - Thái Bình Dương về bảo tồn di sản văn hóa.

Làng cổ Đông Hòa Hiệp hiện còn gần 10 căn nhà trên 100 năm tuổi. Tuy nhiên, chỉ ba căn, trong đó có nhà Ông Kiệt, được bảo quản tương đối tốt nhờ kết hợp khai thác du lịch. Nhiều công trình còn lại đang xuống cấp.

Theo bà Chính, bảo tồn nhà cổ là công việc tốn kém và kéo dài. Đặc trưng của các công trình này là hệ thống cột, kèo, vách gỗ và mái ngói dễ hư hỏng sau nhiều năm chịu tác động của thời tiết.

Gia đình phải định kỳ ba tháng phun thuốc chống mối mọt một lần, chi phí khoảng 10 triệu đồng mỗi năm. Ngoài ra, nhà còn thuê một người chuyên vệ sinh, kiểm tra hiện trạng và một bảo vệ, tổng chi phí duy trì hơn 200 triệu đồng mỗi năm.

Sau Covid-19, hoạt động du lịch gặp khó khăn. Bốn phòng homestay xuống cấp do thời gian dài không đón khách, phải tiếp tục đầu tư sửa chữa.

Khách đến nhà cổ chủ yếu là người châu Âu. Ngoài mùa cao điểm từ cuối năm đến tháng 4, lượng khách khá thưa thớt nên nguồn thu không ổn định.

Cách đó khoảng một km, anh Phan Quang Vinh, hậu duệ đời thứ bảy của nhà cổ Ba Đức hơn 170 năm tuổi, cũng cho rằng du lịch là giải pháp khả thi nhất để giữ gìn các ngôi nhà cổ.

"Kinh tế du lịch là bài toán tốt nhất để cứu nhà cổ", anh nói.

Nhà cổ Ba Đức được xây từ năm 1850, trùng tu lớn vào năm 1938. Trải qua chiến tranh, công trình bị hư hại một số hạng mục nhưng phần lớn kiến trúc, nội thất và các chi tiết chạm khắc vẫn được giữ lại.

Hiện gia đình kết hợp kinh doanh lưu trú với 10 phòng nghỉ cùng cơ sở sản xuất bánh phồng tôm phục vụ khách tham quan nhằm tạo nguồn thu cho việc bảo dưỡng.

Di sản phải tự sống nuôi sống mình

Câu chuyện của hai căn nhà cổ nói trên phần nào phản ánh nỗ lực bảo tồn cũng như những khó khăn trong việc gìn giữ di sản ở miền Tây.

Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, Phó chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, cho rằng nhiều nhà cổ ở miền Tây đang rơi vào hai tình trạng trái ngược: bị bỏ hoang, xuống cấp do thiếu nguồn lực bảo tồn hoặc bị "bức tử" sau những lần trùng tu sai cách, trở thành công trình "giả cổ".

Theo ông, nút thắt lớn nhất là cơ chế quản lý và nguồn lực bảo tồn. Nhiều ngôi nhà chưa được xếp hạng di tích hoặc thuộc sở hữu chung nên chủ nhà không được tự ý sửa chữa nhưng cũng không đủ khả năng duy tu. Trong khi đó, ngân sách nhà nước khó đáp ứng nhu cầu bảo tồn số lượng lớn công trình.

Khó khăn khác là thiếu chuyên gia và thợ thủ công am hiểu kỹ thuật bảo tồn truyền thống. Việc trùng tu nhà hơn 100 năm tuổi đòi hỏi quy trình nghiêm ngặt và hiểu biết sâu về vật liệu, cấu kiện nguyên gốc. Thiếu nhân lực chuyên môn khiến nhiều cuộc đại tu làm mất giá trị nguyên bản của di sản.

Ông Hiệp cho rằng cần thay đổi tư duy bảo tồn, xem nhà cổ là "thực thể sống" có thể tiếp tục tạo ra giá trị thay vì chỉ là hiện vật trưng bày. Khi di sản không mang lại sinh kế, nó dễ trở thành gánh nặng đối với chủ sở hữu.

Để bảo tồn hiệu quả, cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp du lịch, văn hóa hợp tác dài hạn với chủ nhà và chia sẻ lợi ích. Khi được khai thác cho du lịch, lưu trú hoặc trải nghiệm văn hóa, nhà cổ sẽ có nguồn thu để tái đầu tư bảo dưỡng, như mô hình ở làng cổ Đông Hòa Hiệp.

Ông cũng đề xuất thành lập quỹ bảo tồn cấp vùng từ nguồn xã hội hóa, doanh thu du lịch và các tổ chức quốc tế. Thay vì hỗ trợ tiền mặt, quỹ có thể chi trả chi phí thuê chuyên gia, tư vấn kỹ thuật hoặc cung cấp vật liệu phù hợp cho các công trình cần trùng tu.

Theo chuyên gia, cần đẩy nhanh số hóa hồ sơ kiến trúc, quét 3D và lưu trữ cấu trúc nguyên bản của các nhà cổ làm cơ sở cho việc sửa chữa, hạn chế phục dựng sai lệch hoặc "giả cổ hóa" di sản.

 Hoàng Nam

Du khách nước ngoài di chuyển bằng xe điện đến nhà cổ Ông Kiệt. Ảnh: Hoàng Nam

Ông Hiệp cũng cho rằng các nhà cổ không nên tồn tại đơn lẻ mà cần kết nối với làng nghề, chợ nổi, vườn cây ăn trái và các tuyến du lịch đường sông đặc trưng của ĐBSCL để hình thành hệ sinh thái trải nghiệm văn hóa, qua đó gia tăng giá trị và nguồn lực bảo tồn.

Nhà nghiên cứu văn hóa Nhâm Hùng cho rằng ngoài các công trình đã được xếp hạng di tích, còn nhiều nhà cổ thuộc sở hữu tư nhân. Nhiều gia đình gặp khó khăn về kinh tế hoặc nhu cầu sinh hoạt nên buộc phải cơi nới, sửa chữa, thậm chí phá dỡ công trình.

"Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cụ thể đối với các chủ sở hữu để bảo tồn hiệu quả hơn", ông Hùng nói.

Hoàng Nam - Chúc Ly

全文を読む