Từ Furia đến Tiki-taka: bóng đá Tây Ban Nha qua lăng kính lịch sử

2 時間前 19

Thứ hai, 27/7/2026, 06:38 (GMT+7)

Với chức vô địch World Cup 2026, Tây Ban Nha trở thành quốc gia đầu tiên giành hai cúp Vàng trong thế kỷ 21, bên cạnh ba lần đăng quang ở Euro. Chúng phần nào phản ánh thành quả của cuộc cách mạng toàn diện về tư duy chơi bóng.

Phút 58 trong trận bán kết World Cup 2026 gặp Pháp, Pedro Porro ghi bàn thắng có lẽ là quan trọng nhất sự nghiệp quần đùi áo số của anh. Trong khoảnh khắc ăn mừng pha lập công ấn định đưa Tây Ban Nha vào chung kết ấy, hậu vệ phải thuộc biên chế Tottenham làm điều bộ như thể... nắm lấy hạ bộ của mình.

Từ lâu, trong văn hóa Latin, động tác ăn mừng như của Porro là biểu hiện cho lòng quả cảm, sự can trường, hay đơn giản là khoe chất nam tính đầy góc cạnh. Đặc tính ấy từng là cốt lõi trong triết lý bóng đá của đội tuyển Tây Ban Nha suốt nhiều thập kỷ dưới thời tướng độc tài Francisco Franco, được biết đến với biệt danh "La Furia Roja", trong đó "furia" là cơn thịnh nộ, còn "roja" là màu đỏ.

Từ furia đến tiki-taka, đó là cả một hành trình dài song hành cùng những biến chuyển xã hội.

Pha ăn mừng của Pedro Porro sau khi ghi bàn trong trận Pháp – Tây Ban Nha ở bán kết World Cup 2026 trên sân Dallas, Texas, Mỹ ngày 14/7/2026. Ảnh chụp màn hình

Pha ăn mừng của Porro sau khi ghi bàn trong trận Tây Ban Nha gặp Pháp ở bán kết World Cup 2026 trên sân Dallas, Texas, Mỹ ngày 14/7/2026. Ảnh chụp màn hình

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1576, thời điểm bóng đá về bản chất chỉ là những màn "tẩn" nhau chí mạng bên cạnh một quả bóng làm từ bàng quang của con lợn. Vùng đất mà về sau là lãnh thổ Hà Lan ngày nay bấy giờ thuộc quyền cai trị của Tây Ban Nha. Những tổ tiên của vùng này không hài lòng và vì thế phát động chiến tranh. Trong trận cướp phá đẩy lùi sự phản kháng của cư dân bản địa tại thành Antwerp, người Tây Ban Nha đã ra tay tàn bạo đến mức lịch sử gọi đó là "Cơn thịnh nộ đỏ".

Đến năm 1920, khái niệm "furia" một lần nữa được nhắc đến dưới ngòi bút của một nhà báo mang hai dòng máu Pháp - Hà Lan, khi ông miêu tả lối chơi bạo lực của đội tuyển Olympic Tây Ban Nha tại kỳ Thế vận hội diễn ra chính tại... Antwerp. Đấy có thể xem là thời điểm đánh dấu sự ra đời của biệt danh "La Ruria Roja". Người dân đất nước thuộc bán đảo Iberia chẳng lấy làm phiền lòng. Ngược lại, họ còn tự hào đón nhận thứ định kiến kiêu hãnh và bất khuất đó.

Bản sắc bóng đá ấy tiếp tục bám chặt lấy Tây Ban Nha dưới thời Franco, người nắm quyền từ năm 1936 đến 1975, lúc cuộc nội chiến ba năm nổ ra. "Từ những năm 1940 đến cuối những năm 1970, Tây Ban Nha dốc toàn lực vào thứ 'furia' này", Giáo sư Sử học và Lịch sử Thể thao Tây Ban Nha Jose Gomes, giải thích. "Điều này dựa trên tinh thần 'Viva la muerte' (Cái chết trường tồn) của phe Franco trên chiến trường, và thứ tính cách Tây Ban Nha tự phán là áp đặt bằng thể chất. Nói hơi thô tục một chút, nhưng là dùng 'dũng khí đàn ông' để đè bẹp đối thủ. Đó chính là 'furia'".

Franco – nhà lãnh đạo đảng Falange khi ấy – coi bóng đá là công cụ hữu hiệu để nhồi sọ quần chúng về các giá trị của chế độ, đặc biệt là thông qua ý niệm "furia", một trong những tàn dư hiếm hoi của bóng đá Tây Ban Nha sau thời Cộng hòa. Trước mỗi trận giao hữu, giới cầu thủ phải chào kiểu phát xít và hô vang khẩu hiệu "Arriba Espana! Viva Franco!" (Tây Ban Nha tiến lên, Franco muôn năm).

Tây Ban Nha là một đất nước gồm nhiều vùng với mỗi vùng có ngôn ngữ riêng. Thời Franco, tên các CLB đều bị Tây Ban Nha hóa và bắt buộc phải có ít nhất hai thành viên của đảng Falange trong ban lãnh đạo. Đội tuyển Tây Ban Nha vốn gắn với sắc đỏ (Roja), bị đổi tên thành sắc xanh (Azul), chính là màu tượng trưng của đảng cầm quyền, bởi màu đỏ bị gán cho chủ nghĩa cộng hòa, cộng sản, thậm chí là vô chính phủ.

Tập thể đội tuyển Tây Ban Nha vô địch Euro 1964 sau trận chung kết Tây Ban Nha – Liên Xô (cũ) trên sân Santiago Bernabeu, Madrid, Tây Ban Nha ngày 21/6/1964. Ảnh: Báo Pháp So Foot

Tập thể đội tuyển Tây Ban Nha vô địch Euro 1964 sau trận chung kết Tây Ban Nha – Liên Xô (cũ) trên sân Santiago Bernabeu, Madrid, Tây Ban Nha ngày 21/6/1964. Ảnh: Báo Pháp So Foot

Ngay cả khi trang phục màu đỏ quay trở lại vào năm 1947, người Tây Ban Nha không còn gọi ĐTQG của họ bằng biệt danh "La Roja" nữa, mà chỉ gọi là "Seleccion" (ĐTQG). Mọi thứ đều thay đổi, trừ lối chơi. Những đường bóng dài, các cú vung cùi chỏ và không chiến chiếm ưu thế, được hợp thức hóa bằng vị trí thứ tư có phần may mắn ở World Cup 1950. Chức vô địch Euro 1964 trên sân nhà của tập thể Luis Suarez (người giành Quả Bóng Vàng 1960) là chiến tích bóng đá duy nhất của Tây Ban Nha dưới thời kỳ Franco, và nó lập tức được trưng dụng làm "biển hiệu" quảng bá cho chế độ.

Chỉ đến khi một người Hà Lan là Johan Cruyff cập bến Barca, ban đầu với tư cách cầu thủ vào năm 1973, rồi sau đó là HLV vào năm 1988, tư duy chơi bóng của người Tây Ban Nha mới thực sự chuyển dịch. Nhất là khi Franco qua đời năm 1975, quá trình chuyển giao dân chủ chậm rãi bắt đầu, cùng phong trào giải phóng văn hóa - xã hội mang tên "La Movida" lan rộng khắp các thành phố lớn, cởi trói cho cả nền bóng đá.

"Cruyff tung vào sân những tiền vệ trưởng thành từ Barca với vóc dáng mảnh khảnh, không mạnh về thể chất nhưng mang tư duy chơi bóng thượng thừa", Giáo sư Jose Gomes nhớ lại. "Chính từ thời điểm đó, lối chơi dựa trên sự tự do, khả năng kiểm soát bóng và những đường chuyền bật nhả liên tục bắt đầu cắm rễ. Ngay cả những phát biểu sau trận đấu như ‘điều quan trọng không phải là thắng bằng mọi giá, mà là trở thành đội bóng chiếm trọn trái tim người hâm mộ’ cũng là một tư tưởng mang tính cách mạng thời ấy".

Johan Cruyff (trái) trong ngày ra mắt HLV trưởng Barca ở văn phòng tại sân Camp Nou, Barcelona, Tây Ban Nha ngày 4/5/1988. Ảnh: CLB FC Barcelona

Johan Cruyff (trái) trong ngày ra mắt HLV trưởng Barca ở văn phòng tại sân Camp Nou, Barcelona, Tây Ban Nha ngày 4/5/1988. Ảnh: CLB FC Barcelona

Sau bốn chức vô địch La Liga liên tiếp của Barca từ 1991 đến 1994, triết lý của Cruyff đã thống trị đất nước của "những cơn thịnh nộ", tiếp nối thành công từ các đội bóng xứ Basque vốn vẫn trung thành với lối chơi cũ. Một bước ngoặt kéo dài tương đương với quá trình thiết lập nền dân chủ Tây Ban Nha, vốn từng bị chấn động bởi cuộc đảo chính không thành năm 1981.

20 năm sau khi Cruyff ngồi vào ghế nóng ở đội chủ sân Camp Nou, và hai tháng sau khi Pep Guardiola tiếp quản vị trí đó, đoàn quân của cố HLV Luis Aragones cuối cùng đã xóa tan hình ảnh một Tây Ban Nha sinh ra để thất bại vào năm 2008. Họ chiến thắng và thuyết phục hoàn toàn thế giới nhờ những Xavi và Iniesta – những tiền vệ nhỏ con, không vượt trội về thể hình nhưng làm chủ quả bóng một cách thiên tài.

Euro 2008, World Cup 2010 và Euro 2012 đều gọn gàng nằm trong túi người Tây Ban Nha. Đội tuyển nam trở lại đỉnh thế giới vào mùa hè này, sau một kỳ Euro 2024 mà họ áp đảo bằng cái đầu vượt trội hơn hẳn đối thủ. Song song đó, bóng đá nữ Tây Ban Nha cũng khẳng định vị thế khi tiếp bước các đồng nghiệp nam, khi đang là ĐKVĐ thế giới sau kỳ World Cup nữ 2023. "Sự sáng tạo từng bị bịt miệng trong những năm tháng độc tài Franco giờ đây thực sự đại diện cho diện mạo của Tây Ban Nha hiện đại", Giáo sư Jose Gomes khẳng định.

Các cầu thủ Tây Ban Nha khoác vai nhau thành vòng tròn ăn mừng chức vô địch World Cup 2026 sau trận chung kết Tây Ban Nha – Argentina trên sân MetLife, New Jersey, Mỹ ngày 19/7/2026. Ảnh: AP

Các cầu thủ Tây Ban Nha khoác vai nhau thành vòng tròn ăn mừng chức vô địch World Cup 2026 sau trận chung kết Tây Ban Nha – Argentina trên sân MetLife, New Jersey, Mỹ ngày 19/7/2026. Ảnh: AP

Không chỉ thi triển một lối chơi thanh thoát, tập thể đã trở thành hình mẫu toàn cầu, đội tuyển Tây Ban Nha giờ đây còn trông cậy vào những ngôi sao xuất thân từ những gia đình nhập cư, dẫn đầu là Lamine Yamal, Nico Williams và Aymeric Laporte.

"Trẻ em và thiếu niên Tây Ban Nha giờ đây đều coi Yamal là thần tượng, và điều đó phản ánh rõ nét một Tây Ban Nha của hiện đại", Giáo sư Jose Gomes nhận định. "Tất nhiên, Tây Ban Nha thời Franco không phải là đất nước mà người nước ngoài đến định cư để làm việc, vì nền kinh tế khi đó không phát triển. Nhưng điều từng là không tưởng chính là sự bùng nổ, niềm tự do và khát khao được sống để cống hiến ở Yamal. Đó hoàn toàn không phải là những gì người ta kỳ vọng ở một người Tây Ban Nha điển hình thời Franco".

Đó cũng chính là bầu không khí hoan hỉ ngập tràn khắp các con phố trên khắp đất nước Tây Ban Nha vào ngày 19/7 vừa qua, đúng 90 năm và 2 ngày kể từ khi cuộc nội chiến đau thương nổ ra.

Hoàng Thông (theo So Foot)

全文を読む