
Nguồn hình ảnh, BBC/Getty Iamges/PV Oil
Được đăng 3 phút trước
Thời gian đọc: 7 phút
Việt Nam đặt cược vào khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) để giúp giảm phụ thuộc vào than đá trong quá trình chuyển sang năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, khi chỉ còn bốn năm để hoàn thành mục tiêu, phần lớn các dự án LNG vẫn đang đình trệ vì nhiều nguyên nhân.
Hồi tháng 3/2026, người giàu nhất Việt Nam, ông Phạm Nhật Vượng, đã dừng dự án nhà máy điện LNG lớn nhất nước tại Hải Phòng, theo tin độc quyền của Reuters. Đây là bước đi cho thấy tác động của tình hình bất ổn nguồn cung nhiên liệu từ Trung Đông lên kế hoạch phát triển điện năng của tập đoàn tư nhân lớn nhất Việt Nam, Reuters đánh giá.
Mới cách đó sáu tháng, hồi tháng 9/2025, ông Vượng còn cùng ông Phạm Minh Chính – khi đó còn trên cương vị thủ tướng – chính thức tham dự lễ khởi công dự án nhà máy điện LNG 4,8 GW có tổng vốn đầu tư 6,7 tỷ USD này.
Theo truyền thông Việt Nam, dự án xây dựng Nhà máy Nhiệt điện LNG Hải Phòng do Liên danh Nhà đầu tư Tập đoàn Vingroup - Công ty Cổ phần Năng lượng VinEnergo làm chủ đầu tư, diện tích gần 100ha, tổng số vốn hơn 178.000 tỷ đồng. Công trình dự kiến được đưa vào vận hành vào cuối năm 2030, cung cấp khoảng 9,6 tỷ kWh/năm (giai đoạn 1) và 19,2 tỷ kWh/năm (giai đoạn 2).
Thế nhưng, sau khi ông Chính về hưu, Vingroup đã dừng dự án này.
Điều đáng lưu ý là hai năm trước, Việt Nam đã bổ sung mục tiêu phát triển điện khí LNG vào Quy hoạch Điện 8 nhằm phù hợp tuyên bố của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị COP26 năm 2021.
Theo đó, Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Để tiến tới mục tiêu trên, theo tính toán, Việt Nam cần 22,5 GW điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) vào năm 2030, năm cột mốc giảm dần điện sản xuất từ than đá để tiến tới ngưng hoàn toàn vào năm 2050.
Dù không được coi là năng lượng sạch và không được nhiều chuyên gia xem là giải pháp thay thế lâu dài cho than đá, LNG vẫn được nhiều quốc gia sử dụng như một "nhiên liệu chuyển tiếp", đóng vai trò cầu nối trong quá trình chuyển từ điện than sang năng lượng tái tạo.
Theo các chuyên gia được Dialogue Earth phỏng vấn hồi giữa tháng 7/2026, chính phủ mới của Việt Nam hiện có cách tiếp cận thận trọng hơn với LNG và đang ưu tiên nhiều hơn cho năng lượng tái tạo cùng các hệ thống lưu trữ điện. Dialogue Earth là kênh truyền thông phi chính phủ về môi trường có trụ sở tại London (Anh).
Nguyên nhân vì đâu?

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Theo quy hoạch điện điều chỉnh năm 2025, LNG dự kiến chiếm khoảng 9,5-12,3% tổng công suất phát điện vào năm 2030.
Nhưng đến đầu năm 2026, Việt Nam mới chỉ có một tổ hợp gồm hai nhà máy LNG vận hành với tổng công suất 1,62 GW và một dự án 1,2 GW đang xây dựng, theo báo Công Thương.
Phần lớn các dự án còn lại bị chậm tiến độ, đình trệ hoặc hủy bỏ, như Sơn Mỹ 1 và 2, Quảng Ninh, Hải Lăng, Thái Bình hay Hiệp Phước, hoặc mời thầu nhiều lần nhưng chưa tìm được nhà đầu tư, như dự án Nghi Sơn.
Một trong những nguyên nhân chính là các hợp đồng mua bán điện (PPA) chưa đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tài chính quốc tế.
Theo quy định hiện hành, EVN chỉ cam kết mua 65% sản lượng điện của nhà máy trong tối đa 10 năm, thấp hơn nhiều so với thông lệ quốc tế, vốn thường yêu cầu hợp đồng "take-or-pay" [cam kết mua hoặc vẫn thanh toán cho sản lượng đã thỏa thuận, dù có sử dụng hay không] kéo dài 15-20 năm với mức cam kết mua khoảng 80-90% sản lượng.
Để giải quyết tình hình, Bộ Công Thương đã đề xuất nâng mức bảo đảm lên 75% trong 15 năm, nhưng nhiều nhà đầu tư cho rằng như vậy vẫn chưa đủ để các dự án có thể vay vốn.
Các nhà đầu tư cũng muốn có cơ chế chia sẻ rủi ro về giá LNG, tỷ giá hối đoái và bảo đảm thanh toán nếu EVN không huy động đủ điện.
Tuy nhiên, phần lớn các đề xuất này đã không được chấp nhận vì chính phủ Việt Nam lo ngại sẽ làm tăng gánh nặng tài chính cho EVN và người tiêu dùng điện.
Khó khăn với các dự án LNG tại Việt Nam còn đến từ các yếu tố bên ngoài.
Chẳng hạn, nguồn cung tua bin khí toàn cầu đang khan hiếm do ba nhà sản xuất lớn là GE Vernova, Siemens Energy và Mitsubishi Heavy Industries đều quá tải đơn hàng.
Bên cạnh đó, xung đột Mỹ và Isarel với Iran khiến giá LNG tăng mạnh và làm gián đoạn chuỗi cung ứng, khiến các dự án phụ thuộc vào LNG nhập khẩu trở nên rủi ro hơn.
Giá LNG tăng mạnh do xung đột ở Trung Đông, cộng thêm chi phí nhập khẩu khoảng 5 triệu tấn LNG mỗi năm, cũng là lý do Vingroup cho rằng dự án của họ ở Hải Phòng không còn hiệu quả về kinh tế.
Vingroup đã đề xuất thay dự án điện khí LNG bằng một tổ hợp điện gió và điện mặt trời kết hợp hệ thống pin lưu trữ quy mô lớn.
Hệ thống này sẽ tích trữ điện khi nguồn tái tạo phát dư và phát ngược lên lưới khi nhu cầu tăng hoặc khi gió yếu, trời không có nắng.
Việc kết hợp điện gió, điện mặt trời với hệ thống lưu trữ bằng pin ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Vấn đề là, tại Việt Nam, triển vọng này đang đặt ra câu hỏi về khả năng thu hút đầu tư.
Trong giai đoạn 2025-2026, nhiều nhà đầu tư điện gió và điện mặt trời đã rút lui khỏi Việt Nam do các vướng mắc về cơ chế mua giá điện và các khó khăn khác.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng LNG khó có thể biến mất khỏi chiến lược năng lượng của Việt Nam.
Hơn một chục dự án LNG trị giá hàng tỷ đô la vẫn đang nằm trong quy hoạch và Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas) đang tiếp tục đầu tư vào hệ thống kho cảng, đường ống nhập khẩu.
Về mặt ngoại giao, nhập khẩu LNG từ Mỹ còn được xem là một công cụ giúp Việt Nam giảm thặng dư thương mại với Mỹ, điều mà Washington luôn sử dụng để gây sức ép với Hà Nội.
Tuy nhiên, chừng nào nhà đầu tư còn cần các cam kết tài chính mạnh hơn – như bảo đảm bao tiêu sản lượng điện hoặc cơ chế chia sẻ rủi ro khi giá LNG biến động – trong khi chính phủ và EVN chưa sẵn sàng gánh thêm rủi ro, thế bế tắc của các dự án LNG nhiều khả năng sẽ tiếp diễn, theo các chuyên gia.








