Sự trì trệ khiến Anh thay 6 thủ tướng trong 10 năm

1 giờ trước 7

Cử tri Anh luôn cảm thấy kinh tế trì trệ do Brexit và tăng trưởng yếu kéo dài, khiến các thủ tướng chỉ có nhiệm kỳ trung bình 14 tháng trong thập kỷ qua.

Thủ tướng Anh Keir Starmer ngày 22/6 tuyên bố từ chức, chưa đầy hai năm sau khi đắc cử với số phiếu áp đảo để đưa Công đảng trở lại nắm quyền. Điều này đồng nghĩa Anh sắp có thủ tướng thứ 7 trong vòng 10 năm, tốc độ thay lãnh đạo hiếm thấy đối với một quốc gia được xem là biểu tượng của sự ổn định chính trị.

Sóng gió bắt đầu bao phủ chính trường Anh từ tháng 6/2016, khi nước này tổ chức trưng cầu dân ý với kết quả 52% cử tri chọn rời Liên minh châu Âu, còn gọi là Brexit. Thủ tướng David Cameron của đảng Bảo thủ từ chức không lâu sau cuộc bỏ phiếu, mở đường để bà Theresa May lên kế nhiệm với cam kết thuyết phục các nghị sĩ ủng hộ thỏa thuận Brexit.

Nhưng đến tháng 5/2019, bà May tuyên bố rời nhiệm sở sau nhiều nỗ lực bất thành nhằm đưa Brexit vượt qua ải quốc hội. "Tôi vẫn luôn hối tiếc sâu sắc khi không thể đưa đất nước đạt thỏa thuận", bà nói khi đó.

Ông Boris Johnson nhậm chức thủ tướng tiếp theo vào tháng 7/2019, đưa ra cam kết đoạn tuyệt với EU và kiên quyết thực hiện Brexit vào hạn chót 31/10/2019 mà không có thêm bất cứ sự trì hoãn nào.

Ông Johnson đã phần nào thực hiện được cam kết, đưa Anh chính thức rời EU vào ngày 31/1/2020. Tuy nhiên, tháng 7/2022, thủ tướng Johnson thông báo từ chức sau khi đối mặt sức ép ngày càng tăng từ các thành viên nội các và nghị sĩ trong đảng Bảo thủ cầm quyền liên quan đến loạt bê bối.

Bà Liz Truss lên nắm quyền ngày 7/9/2022 nhờ cam kết hành động nhanh chóng để ứng phó khủng hoảng chi phí, liên quan đến tình trạng giá năng lượng gia tăng do chiến sự Ukraine.

Tuy nhiên, loạt sai lầm trong điều hành liên quan đến kế hoạch cắt giảm thuế khiến thị trường tài chính hỗn loạn đã khiến bà phải từ chức sau 49 ngày, đánh dấu nhiệm kỳ thủ tướng ngắn nhất trong lịch sử Anh.

Ông Rishi Sunak lên kế nhiệm với nhiệm vụ vực dậy nền kinh tế Anh vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 cùng xung đột Ukraine. Sunak đưa ra những cam kết cắt giảm thuế và áp dụng chính sách nhập cư cứng rắn nhưng không khắc phục được tình trạng trì trệ về kinh tế cũng như những chia rẽ vì những mâu thuẫn và bê bối nội bộ, khiến ông thất bại trước ông Starmer trong cuộc bầu cử năm 2024.

Chiến thắng của ông Starmer đưa Công đảng trở lại nắm quyền sau hơn một thập kỷ. Nhưng một trong những động thái đầu tiên của họ khi lên nắm quyền là tăng thuế, bất chấp lời hứa trước bầu cử rằng họ sẽ không làm vậy. Điều này càng gây tổn hại thêm cho nền kinh tế Anh và khiến Công đảng mất hơn 1.200 ghế trong cuộc bầu cử địa phương hồi tháng 5.

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đi của mỗi người không giống nhau. Song theo nhiều chuyên gia, 6 thủ tướng Anh trong 10 năm qua đều có điểm chung là không thể thuyết phục cử tri rằng cuộc sống của người dân đang thực sự tốt lên.

"Mọi thứ sau cùng đều quay trở lại vấn đề kinh tế", Raoul Ruparel, kinh tế trưởng của Boston Consulting Group tại Anh, nhận định. Theo ông, chính cảm giác "mọi thứ dường như không được cải thiện" là lời giải thích cho vòng xoáy "trung bình thay thủ tướng 14 tháng một lần" ở Anh trong thập kỷ qua.

Người dân đứng trước một dãy nhà ở London, Anh tháng 12/2025. Ảnh: AFP

Người dân đứng trước một dãy nhà ở London, Anh tháng 12/2025. Ảnh: AFP

Theo Capital Economics, GDP của Anh chỉ tăng trung bình khoảng 1% mỗi năm kể từ năm 2016. Đây là mức tăng trưởng tương đối thấp đối với một nền kinh tế phát triển. Quan trọng hơn, GDP bình quân đầu người, thước đo phản ánh sát hơn mức sống của người dân, cũng chỉ cải thiện rất ít trong cùng giai đoạn.

Đối với nhiều cử tri, các con số thống kê không quan trọng bằng trải nghiệm thực tế trong cuộc sống hằng ngày. Điều họ quan tâm là thu nhập có theo kịp chi phí sinh hoạt hay không, việc mua nhà có dễ dàng hơn hay không, hay các dịch vụ công có được cải thiện hay không.

Những thay đổi tích cực mà người dân có thể cảm nhận được vẫn diễn ra khá chậm. Số liệu cho thấy thu nhập trung bình hàng tuần sau khi điều chỉnh lạm phát chỉ tăng chưa tới 1% kể từ khi Công đảng lên nắm quyền năm 2024. Trong khi đó, gánh nặng thuế vẫn ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ.

Người dân Anh cũng tiếp tục phải đối mặt với chi phí nhà ở cao, áp lực năng lượng và những tác động kéo dài từ giai đoạn lạm phát tăng mạnh trong các năm gần đây. Điều này khiến nhiều người không cảm nhận được sự cải thiện đáng kể về mức sống dù nền kinh tế vẫn tăng trưởng.

"Các cuộc thăm dò liên tục cho thấy áp lực chi phí sinh hoạt là mối quan tâm lớn nhất của người dân Anh, vì vậy đây chắc chắn là một trong những vấn đề được nhiều cử tri cân nhắc hàng đầu", Ben Harrison, giám đốc tổ chức nghiên cứu Work Foundation, Đại học Lancaster, nói.

 RNZ

Từ trái sang, trên xuống là các đời thủ tướng Anh Keir Starmer, Rishi Sunak, Boris Johnson, Liz Truss, Theresa May và David Cameron. Ảnh: RNZ

Tăng trưởng chậm còn hạn chế khả năng ứng phó của chính phủ. Những cam kết về nâng cấp hạ tầng, cải thiện hệ thống y tế, xây dựng thêm nhà ở hoặc giảm thuế đều cần nguồn lực tài chính đáng kể. Khi nền kinh tế không tạo ra đủ tăng trưởng, các thủ tướng Anh cũng có ít dư địa hơn để thực hiện cam kết đã đưa ra.

Ông Ruparel cho rằng đây là lý do kinh tế luôn đóng vai trò trung tâm trong các cuộc tranh luận chính trị ở Anh.

"Nếu nền kinh tế tăng trưởng, chính phủ sẽ linh hoạt hơn để đầu tư và chi tiêu công, hoặc giảm thuế. Tăng trưởng là nền tảng của mọi thứ", ông Ruparel nói.

Khi mức sống không được cải thiện rõ rệt, những lời hứa về thay đổi của các chính phủ ngày càng khó thuyết phục cử tri. Điều này thể hiện rõ trong cuộc tổng tuyển cử năm 2024. Sau 14 năm cầm quyền của đảng Bảo thủ, cử tri trao cơ hội cho Công đảng với kỳ vọng về một sự thay đổi rõ rệt.

 CNN

Tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng quý của Anh so với các nước còn lại trong G7 và trung bình G7 (không gồm London). Đồ họa: CNN

Tuy nhiên, chính trường Anh hiện đối mặt nghịch lý là nước này cần nhiều năm để giải quyết những vấn đề gai góc, trong khi các thủ tướng ngày càng có ít thời gian chứng minh hiệu suất làm việc của mình.

Từ tình trạng thiếu nhà ở, năng suất lao động thấp cho tới cơ sở hạ tầng xuống cấp, hầu hết thách thức của nền kinh tế Anh đều là vấn đề tích tụ qua nhiều thập kỷ. Đây chính là những vấn đề lớn nhất ông Starmer đối mặt sau khi lên nắm quyền hồi tháng 7/2024.

Khó khăn càng lớn bởi Công đảng đã tự giới hạn dư địa chính sách từ trước khi lên nắm quyền. Trong chiến dịch tranh cử, ông Starmer cam kết không tăng thuế nhằm tránh bị gắn với hình ảnh "đảng tăng thuế". Ngân sách gặp áp lực buộc London phải chọn các biện pháp gây tranh cãi như cắt giảm trợ cấp và vấp phải phản ứng mạnh từ dư luận cũng như nội bộ đảng.

"Chính phủ có một số ý tưởng tốt và đã triển khai những chính sách có thể mang lại động lực lâu dài cho nền kinh tế Anh. Tuy nhiên, sau một loạt bước đi thiếu hiệu quả và những vấn đề trong quá trình thực hiện, tác động tích cực nhiều khả năng sẽ không đáng kể", Ruth Gregory, phó kinh tế trưởng phụ trách Anh của Capital Economics, nhận định.

Sự bất mãn dần thể hiện rõ qua các cuộc khảo sát dư luận. Sau giai đoạn ngắn dẫn trước trong các cuộc thăm dò, tỷ lệ ủng hộ của cử tri với Công đảng liên tục giảm. Cây viết Christian Edwards của CNN mô tả ông Starmer là thủ tướng Anh rời nhiệm sở với tín nhiệm từ người dân thấp kỷ lục.

 Telegraph

Tỷ lệ ủng hộ dành cho Thủ tướng Keir Starmer so với những người tiền nhiệm trong thời gian cầm quyền. Đồ họa: Telegraph

Triển vọng kinh tế Anh được dự báo vẫn ảm đạm. Quỹ Tiền tệ Quốc tế hồi tháng 4 ước tính Anh chỉ tăng trưởng 0,8% trong năm 2026. Con số này cho thấy người kế nhiệm ông Starmer sẽ tiếp tục đối mặt với những khó khăn tương tự các thủ tướng trước đó.

Theo Rain Newton Smith, giám đốc điều hành Liên đoàn Công nghiệp Anh, điều nước này cần nhất hiện nay là sự ổn định.

"Thủ tướng tiếp theo phải nhanh chóng trấn an doanh nghiệp và nhà đầu tư, bảo vệ mức sống của người dân, đồng thời đưa ra một kế hoạch tăng trưởng đáng tin cậy và có thể thực hiện được", ông Smith nói.

Như Tâm (Theo CNN, Reuters, Guardian)

Đọc toàn bộ bài viết