Chỉ có 52,36% trẻ em gái tuổi dậy thì chơi thể thao ngoài giờ học

3 giờ trước 10

Chỉ có 52,36 % trẻ em gái tuổi dậy thì chơi thể thao ngoài giờ học - Ảnh 1.

Khảo sát của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam chỉ có 52,36% trong số trên 524.000 trẻ em gái cấp THCS chơi thể thao ngoài giờ học ở trường - Ảnh: VIỆN KHGDVN

Nhiều rào cản

Theo Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nghiên cứu về thực trạng tham gia thể thao của trẻ em gái cấp THCS ở độ tuổi 11-15, thực hiện theo cách tiếp cận đa nguồn kết hợp tổng quan chính sách, khảo sát trực tuyến, khảo sát trực tiếp tại một số trường THCS, tọa đàm, phỏng vấn sâu và tham vấn các bên liên quan.

Theo thông tin từ hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy sự tham gia thể thao của trẻ em gái cấp THCS tại Việt Nam" do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam chủ trì ngày 18-6, một khảo sát trực tuyến được tiến hành với 524.674 người tại 34 tỉnh/thành.

Kết quả cho thấy mặc dù Việt Nam đã có nền tảng chính sách về giáo dục thể chất, thể thao trường học, quyền trẻ em và bình đẳng giới, nhưng cơ chế và nguồn lực thúc đẩy sự tham gia thể thao của học sinh nữ còn chưa rõ nét.

Tỉ lệ học sinh nữ tham gia vận động, luyện tập hoặc chơi thể thao ngoài giờ học ở trường đạt 52,36%, thấp hơn học sinh nam 17,55 điểm phần trăm.

Chỉ 20,80% học sinh nữ đạt từ 1 giờ vận động/ngày trở lên. Học sinh nữ không phải là nhóm "không thích thể thao", nhưng mức thực sự đam mê chưa cao. Các em chủ yếu tham gia vì sức khỏe, vóc dáng, giảm căng thẳng và phát triển kỹ năng.

Các rào cản nổi bật gồm: ít lựa chọn môn thể thao phù hợp, giờ học còn đơn điệu, thiếu tự tin, sợ bị chê cười, lo ngại chấn thương, ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt và e ngại khi luyện tập cùng bạn nam.

"Những phát hiện này cho thấy cần tạo môi trường vận động an toàn, hòa nhập, tôn trọng lựa chọn, giảm áp lực thành tích và giúp học sinh nữ duy trì thói quen thể thao lâu dài. Vì giai đoạn từ 11 đến 15 tuổi ở trẻ em gái được xem là thời điểm then chốt khi những thay đổi nhạy cảm về tâm sinh lý, áp lực học tập, định kiến giới và sự thiếu tự tin có thể khiến nhiều em dần rời xa các hoạt động thể chất và thể thao", nhóm nghiên cứu nhận định.

Dự án "Phát triển giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam", nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng tham gia thể thao của học sinh nữ THCS và đề xuất các giải pháp giúp các em có thêm cơ hội vận động trong môi trường an toàn, tích cực và phù hợp với nhu cầu của lứa tuổi được triển khai với sự hợp tác của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và Công ty cổ phần Danson Solutions cùng sự hỗ trợ của Nike Việt Nam.

Cần thiết kế những hoạt động thể thao thân thiện

Ngoài nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp, dự án đã tổ chức đợt tập huấn "Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động thể thao cho trẻ em gái lứa tuổi 11-15" tại Hà Nội cho các chuyên gia và giáo viên cốt cán.

Nội dung tập huấn nhằm thiết kế hoạt động vận động thân thiện, tăng lựa chọn, kết nối và khích lệ sự thử sức.

Tiếp đó, chuỗi ngày hội "Nữ sinh năng động" theo mô hình "Ngày hội thể thao thân thiện" được triển khai tại 6 trường THCS ở Ninh Bình, thành phố Huế và Cần Thơ. Dữ liệu thực địa ghi nhận 1.279/1.593 học sinh nữ tham gia, đạt tỉ lệ trung bình 80,5%; hơn 5.000 học sinh được tiếp cận thông qua hoạt động vận động, trò chơi đồng đội, tọa đàm và phỏng vấn.

Kết quả bước đầu cho thấy khi hoạt động được thiết kế vui, đa dạng, ít áp lực và có cơ chế khích lệ phù hợp, học sinh nữ có thể tham gia tích cực hơn, qua đó gợi mở các mô hình thể thao học đường hòa nhập và bền vững hơn cho trẻ em gái.

GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh: "Hoạt động thể chất và thể thao có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em, đặc biệt ở lứa tuổi THCS, giai đoạn các em đang trải qua nhiều thay đổi về thể chất, tâm lý và quan hệ xã hội.

Đối với học sinh nữ, việc duy trì thói quen vận động không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe thể chất mà còn hỗ trợ sức khỏe tinh thần, sự tự tin, khả năng hợp tác trong môi trường học đường.

Nghiên cứu này giúp nhận diện rõ hơn những rào cản đang làm hạn chế sự tham gia thể thao của trẻ em gái, đồng thời cung cấp bằng chứng thực tiễn để nhà trường, gia đình và các bên liên quan thiết kế các giải pháp phù hợp hơn.

Đọc toàn bộ bài viết