Đổi tư duy vận hành phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia

11 giờ trước 8

Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng cần thay đổi tư duy từ "đầu tư phòng thí nghiệm" sang "xây dựng hạ tầng nghiên cứu quốc gia", trong đó con người, cơ chế vận hành và khả năng làm chủ công nghệ phải ở vị trí trung tâm.

Việt Nam hiện có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia ở các lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu, cơ khí, tự động hóa, hóa học, môi trường và năng lượng... Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, sau thời gian dài đầu tư, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm đã đóng góp tích cực, song chưa trở thành hạ tầng nghiên cứu chiến lược quốc gia, nên cần một cơ chế, cách làm mới.

Những điểm nghẽn

Tại hội thảo "Báo cáo và trao đổi, đề xuất mô hình tổ chức, quản lý, vận hành các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia", hôm 2/6, các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều hạn chế của các mô hình cũ. Trong đó đầu tiên nằm ở việc quy hoạch và lựa chọn lĩnh vực đầu tư. Được hình thành từ những năm 2000, phần lớn các phòng thí nghiệm trọng điểm hình thành dựa trên năng lực sẵn có của đơn vị chủ trì hoặc các lĩnh vực ưu tiên của từng giai đoạn.

Vì vậy, cơ cấu chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nghiên cứu truyền thống như vật liệu, hóa học, cơ khí, tự động hóa hay công nghệ sinh học. Trong khi đó, nhiều lĩnh vực mới như bán dẫn, điện toán hiệu năng cao, robot thông minh hay công nghệ lượng tử gần như chưa có sự hiện diện tương xứng.

Nguồn lực đầu tư cũng còn phân tán, quy mô nhỏ. Tổng kinh phí xây dựng 16 phòng thí nghiệm là 967 tỷ đồng, bình quân chưa đến 60 tỷ đồng mỗi phòng thí nghiệm, thấp hơn đáng kể so với chuẩn quốc tế.

Không ít phòng thí nghiệm đầu tư đúng thời điểm nhưng sau đó thiếu nguồn lực nâng cấp. Nhiều thiết bị mua sắm từ giai đoạn 2000-2010 đến nay đã lạc hậu, trong khi chu kỳ đổi mới công nghệ rất ngắn, chỉ 3-7 năm.

PGS. TS Lâm Quang Vinh, Đại học Quốc gia TP HCM chỉ ra nhiều bất cập từ thực tế đơn vị này vận hành hai phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (đầu tư từ năm 2003). Theo ông Vinh, các phòng thí nghiệm này kỹ thuật đã lạc hậu và hết khấu hao; nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ phân bổ hàng năm phục vụ duy tu, bảo dưỡng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế vận hành.

PGS Vinh cũng nêu những rào cản về thủ tục tài chính, mua sắm. Các quy định về đấu thầu, mua sắm trang thiết bị, vật tư và hóa chất chuyên dụng còn phức tạp, kéo dài thời gian thực hiện và gây ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu.

Ông kiến nghị chuyển đổi từ phương thức giao đề tài ngắn hạn sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ trực tiếp theo chu kỳ dài hạn (từ 03 đến 05 năm) cho các tổ chức có quy mô lớn và các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo điều kiện ổn định nguồn lực để làm chủ công nghệ lõi và duy trì vận hành hạ tầng kỹ thuật bền vững.

 Ngọc Thành

Nhà khoa học làm việc tại phòng thí nghiệm Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST). Ảnh: Ngọc Thành

Những vướng mắc PGS Vinh nêu cũng là tình trạng chung đang gặp phải ở các phòng thí nghiệm trọng điểm khác. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong nhiều năm, nguồn lực Nhà nước chủ yếu dành cho mua sắm thiết bị, trong khi kinh phí hoạt động thấp, chỉ 1,137 tỷ đồng/phòng thí nghiệm mỗi năm. Khoản kinh phí này ở mức tối thiểu, đủ cho điện, nước, vật tư tiêu hao, nhưng không đủ để duy trì đội ngũ nhân lực chất lượng cao hoặc các nghiên cứu dài hạn.

Đa số phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia không có tư cách pháp nhân đầy đủ, không tự chủ về tài chính, nhân sự và chiến lược phát triển. Nhiều nơi hoạt động như đơn vị phụ thuộc của viện nghiên cứu, trường đại học.

Một điểm nghẽn khác nằm ở nguồn nhân lực. Phần lớn nhân sự tại phòng thí nghiệm là cán bộ kiêm nhiệm. Các cơ sở này không được giao biên chế nghiên cứu chuyên trách, không có cơ chế tuyển dụng riêng và chính sách đãi ngộ cạnh tranh. Hệ quả là nhiều phòng thí nghiệm có thiết bị nhưng không đủ nhân lực khai thác tối đa công suất.

Theo các chuyên gia, song song với đầu tư hạ tầng và nhân lực, cần tháo gỡ các rào cản về thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đại diện Tập đoàn CMC và nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm cho rằng, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế khai thác tài sản công và hợp tác với doanh nghiệp là những nút thắt lớn cần giải nếu muốn biến các phòng thí nghiệm thành nơi tạo ra công nghệ và sản phẩm thực sự.

Đề xuất mô hình vận hành mới

Để giải quyết các tồn tại kéo dài nhiều năm, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Đề án phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược.

Thay vì phát triển các phòng thí nghiệm đơn lẻ, đề án hướng tới xây dựng một hệ thống hạ tầng nghiên cứu quốc gia đồng bộ, hiện đại và có khả năng kết nối quốc tế. Đây là nền tảng cho việc nghiên cứu, thử nghiệm, làm chủ và thương mại hóa các công nghệ chiến lược.

Phòng thí nghiệm bán dẫn Trung tâm nghiên cứu triển khai, Khu công nghệ cao TP HCM, tháng 12/2024. Ảnh: Như Quỳnh

Phòng thí nghiệm bán dẫn Trung tâm nghiên cứu triển khai, Khu công nghệ cao TP HCM, tháng 12/2024. Ảnh: Như Quỳnh

Một trong những đề xuất là việc tổ chức hệ thống theo mô hình ba tầng, như một hệ thống nhất, dùng chung thiết bị, chia sẻ dữ liệu, chuyên gia và các nguồn lực nghiên cứu.

Tầng đầu tiên gồm các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm quốc gia chiến lược. Tiếp đến là hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm theo từng lĩnh vực, đặt tại các trường đại học nghiên cứu mạnh, viện nghiên cứu quốc gia hoặc doanh nghiệp công nghệ lớn, kết nối giữa nghiên cứu và nhu cầu của doanh nghiệp. Cuối cùng là mạng lưới phòng thí nghiệm vùng và ngành, nơi giải bài toán phát triển tại địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, lan tỏa công nghệ.

Ngoài mô hình đa tầng, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia còn được quy hoạch theo các công nghệ chiến lược và không gian phát triển vùng.

Nhiều nhà khoa học đồng tình với hướng tiếp cận này nhưng cho rằng cần làm rõ cơ chế quản trị. Theo GS. TS Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Đại học Bách khoa TP HCM, giám đốc các phòng thí nghiệm trọng điểm - thực chất là các nhà khoa học, hiện vừa phải định hướng chuyên môn vừa xử lý công việc hành chính. Vì vậy, ông cho rằng cần tách bạch vai trò Giám đốc khoa học (phụ trách chuyên môn) và Giám đốc vận hành (phụ trách hành chính, hạ tầng).

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đề xuất đổi mới mô hình quản trị, áp dụng mô hình: Nhà nước đầu tư - tổ chức xuất sắc vận hành - doanh nghiệp đồng hành - địa phương cùng tham gia phát triển.

Nhà nước xây dựng chiến lược, đầu tư hạ tầng và giao nhiệm vụ, giám sát, đánh giá kết quả, thay vì trực tiếp vận hành. Các trường đại học trọng điểm, viện nghiên cứu quốc gia và doanh nghiệp được khuyến khích cùng tham gia vận hành phòng thí nghiệm.

Cơ chế đầu tư và tài chính cũng sẽ thay đổi, chuyển từ làm dự án sang các chương trình quốc gia dài hạn, đồng đầu tư của trung ương, doanh nghiệp và địa phương. Đây cũng là quan điểm được nhiều nhà khoa học đồng tình, bởi họ có mong muốn Nhà nước chuyển từ tư duy đầu tư một lần sang đầu tư theo vòng đời công nghệ.

Ngoài ra, còn có đột phá về phát triển nguồn nhân lực, chuyển từ mô hình kiêm nhiệm sang đội ngũ chuyên nghiệp, tuyển dụng theo hợp đồng, trả lương theo thị trường, thậm chí thu hút cả các chuyên gia quốc tế.

Theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, đối với hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia cần tiếp cận theo hướng chương trình phát triển hạ tầng trọn gói (bao gồm hạ tầng, vận hành, nhân lực) thay vì dự án mua sắm một lần. Chuyển từ quản trị chi phí sang quản trị kết quả, quản lý bằng mốc tiến độ và KPI rõ ràng. "Nếu không hiệu quả, sẽ dừng đầu tư và điều chuyển tài sản", ông nói, yêu cầu Ban soạn thảo tiếp thu các ý kiến để tiếp tục hoàn thiện đề án, đảm bảo hành lang pháp lý để các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.

Trọng Đạt

Đọc toàn bộ bài viết