Quảng NgãiBỏ công việc quản lý khách sạn, chị Nguyễn Thị Thu Thủy trở về Quảng Ngãi, thuyết phục nông dân trồng lại mía để nấu mật, rồi đưa sản phẩm xuất khẩu.
Năm 2021, nghề trồng mía ở Quảng Ngãi gần như chạm đáy. Từ hơn 10.000 ha thời hoàng kim, diện tích mía toàn tỉnh chỉ còn hơn 380 ha, theo Chi cục Thống kê tỉnh. Những cánh đồng mía ven sông Trà Khúc dần nhường chỗ cho keo, mì. Nhà máy đường chuyển lên Gia Lai, nhiều lò nấu mật, nấu đường truyền thống lần lượt tắt lửa.
Giữa lúc đó, chị Nguyễn Thị Thu Thủy, 41 tuổi, chọn cây mía để khởi nghiệp. Chị tin nếu trồng mía theo hướng sạch, chế biến sâu và giữ được hương vị tự nhiên, mật mía Quảng Ngãi vẫn có thể tìm lại chỗ đứng trên thị trường.
Trước khi về quê, chị Thủy có nhiều năm làm trong ngành du lịch, quản lý khách sạn tại TP HCM. Năm 2016, khi hai con còn nhỏ, vợ chồng chị rời thành phố về Quảng Ngãi, mong sống gần gia đình và thiên nhiên. Chị tiếp tục nghề cũ, làm quản lý khách sạn ở đảo Lý Sơn.
Đến năm 2021, Covid-19 bùng phát, du lịch đóng băng, Lý Sơn vắng khách. Trong khoảng thời gian này, vợ chồng chị bắt đầu nghĩ đến cây mía - loại cây từng gắn với nhiều làng quê Quảng Ngãi. So với một số cây đặc sản khác, mía dễ trồng, có thể chăm sóc theo hướng hữu cơ và ít công hơn.
Chị Thủy trong xưởng nấu mật mía thủ công. Ảnh: Phạm Linh
Nhưng ý tưởng đưa nông dân quay lại với cây mía không dễ. Chị Thủy đến nhiều nơi, gặp từng hộ dân, thuyết phục họ trồng mía để công ty thu mua nấu mật. Phần lớn chỉ lắc đầu. "Làm không được đâu con ơi, bán không được đâu con ơi", nhiều người nói với chị.
Không nản chí, chị Thủy tiếp tục đi nhiều nơi ở Quảng Ngãi và nhận ra các lò nấu mật, nấu đường mía gần như không còn. Ở Nghĩa Dũng, Nghĩa Dõng - vùng từng là cái nôi của nghề đường mía - chỉ còn lác đác vài lò nấu đường phèn từ đường tinh luyện. Những người thợ nói họ cố giữ lò, giữ nghề, nhưng nguồn mía và đầu ra đều bấp bênh. "Đúng là phải có niềm tin đủ mạnh mới tiếp tục làm, nhiều khi mình thấy như đang đâm đầu vào đá", chị nhớ lại.
Sau nhiều ngày tìm kiếm, chị được giới thiệu lên Nghĩa Thắng gặp bà Nguyễn Thị Liên, một chủ vựa mía còn gắn bó với loại cây này. Bà Liên kể mía từng giúp gia đình bà có nhà, nuôi con ăn học, nên dù không còn nhiều người mua, bà vẫn không nỡ bỏ. "Cô không nỡ dứt bỏ, dù chẳng còn ai mua ở Quảng Ngãi nữa", bà nói.
Cuộc gặp này giúp chị Thủy tìm được người đồng hành đầu tiên. Chị cam kết mở xưởng, thu mua mía cho bà Liên. Từ bà, chị kết nối thêm nhiều hộ khác còn "nặng nợ" với cây mía.
Những mẻ mật đầu tiên được nấu trong một xưởng nhỏ. Nghề nấu mật tưởng đơn giản nhưng đòi hỏi nhiều kinh nghiệm, từ cách xây lò, giữ lửa, chọn chảo đến thời điểm cô đặc nước mía. Mỗi người thợ có một bí quyết riêng, không công thức nào hoàn toàn giống nhau.
Nhiều mẻ mật không đạt phải đổ bỏ. Tài chính cạn dần, tinh thần nhiều lúc xuống thấp. Chị Thủy nói điều giữ chị ở lại là niềm tin vào sản phẩm và sự đồng hành của chồng.
Sau giai đoạn thử nghiệm, chị nhận ra khôi phục nghề cũ chưa đủ. Người tiêu dùng hiện nay không chỉ cần sản phẩm ngon, mà còn quan tâm tiêu chuẩn an toàn, quy trình sản xuất và nguồn gốc nguyên liệu. Kinh nghiệm quản lý khách sạn giúp chị chú ý từng chi tiết trong sản xuất, từ vệ sinh xưởng, bao bì đến tính đồng đều của sản phẩm.
Từ xưởng nhỏ ban đầu, chị Thủy lập Công ty cổ phần Mật mía Miền Xanh, xây nhà xưởng ở xã Nghĩa Giang với tổng vốn 3,5 tỷ đồng. Cơ sở áp dụng quy trình sản xuất khép kín, đạt ISO 22000 và hệ thống quản lý an toàn thực phẩm HACCP.
Mía sau thu hoạch được chặt bỏ ngọn, gốc, róc sạch vỏ, ép qua hệ thống máy, lọc nhiều lớp. Công đoạn nấu kết hợp phương pháp thủ công và công nghệ cô đặc chân không, giúp giữ hương vị tự nhiên, cho ra các mẻ mật đồng đều, không phụ gia, không phẩm màu.
Năm 2024, chị Thủy đoạt giải nhất cuộc thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ngãi lần thứ 5. Với chị, giải thưởng là dấu mốc cho bốn năm theo đuổi cây mía trong thời điểm nhiều người đã rời bỏ.
Mô hình của chị cũng giúp vùng mía phía nam sông Trà Khúc dần phục hồi. Từ vài ha ban đầu, vùng nguyên liệu nay mở rộng lên hơn 20 ha. Bà Liên tăng diện tích mía từ 0,7 ha lên 3,5 ha. Nhiều hộ khác cũng trồng thêm vì có đầu ra ổn định.
"Từ ngày Thủy nấu mật mía, tôi yên tâm hơn vì có người bao tiêu, giá ổn định, thu nhập cao hơn các cây trồng khác", bà Liên nói.
Hiện công ty liên kết với 20 hộ trồng mía, thu mua với giá 1.300-1.500 đồng mỗi kg, cao gấp đôi giai đoạn 2017-2018, khi giá mía xuống thấp khiến nhiều nông dân chuyển sang cây trồng khác.
Mật mía ra lò và được đóng chai tại xưởng của chị Thuỷ. Ảnh: Phạm Linh
Theo tính toán của doanh nghiệp, nông dân liên kết có thể lãi 40-50 triệu đồng mỗi ha trong năm đầu. Từ năm thứ hai đến năm thứ tư, lợi nhuận tăng lên 60-70 triệu đồng mỗi ha mỗi năm. Trong khi đó, cây keo mất khoảng 5 năm mới thu hoạch, lợi nhuận 100-120 triệu đồng mỗi ha mỗi chu kỳ, tương đương 20-24 triệu đồng mỗi ha mỗi năm. Cây mì có thời điểm giá tốt cũng chỉ lãi khoảng 30-40 triệu đồng mỗi ha, trong khi giá thường biến động.
Trên thị trường, Mật mía Miền Xanh hiện có hơn 200 đại lý, cửa hàng trong nước, đồng thời đưa sản phẩm vào một số hệ thống siêu thị. Khoảng 80% sản lượng tiêu thụ nội địa, 20% xuất khẩu chính ngạch sang Đài Loan, New Zealand, Australia và Philippines.
Mỗi tháng, cơ sở ép và chế biến 100-150 tấn mía tươi, cho ra 10-15 tấn mật thành phẩm. Doanh thu năm 2024 đạt hơn 2 tỷ đồng, năm 2025 khoảng 4 tỷ đồng. Năm 2026, công ty đặt mục tiêu doanh thu 7 tỷ đồng.
Ông Võ Quốc Hùng, Phó giám đốc Sở Công Thương Quảng Ngãi, cho biết ngành công thương thời gian qua hỗ trợ xúc tiến thương mại cho sản phẩm mật mía. Theo ông, sản phẩm này góp phần khôi phục nghề truyền thống, đồng thời xuất hiện trong nhiều hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư của địa phương như một hình ảnh gắn với xứ núi Ấn, sông Trà.
Phạm Linh






