Sự thật quan niệm 'đồng tính là vô sinh'

4 hours ago 34

Thứ tư, 3/6/2026, 01:00 (GMT+7)

Người đồng tính (LGBT) không đồng nghĩa vô sinh, nhiều trường hợp vẫn có thể sinh sản tự nhiên hoặc nhờ y học hiện đại.

"Đồng tính là vô sinh" là một trong những hiểu lầm phổ biến mà bác sĩ thường gặp khi tư vấn cho người thuộc cộng đồng LGBT và gia đình. Theo TS.BS Lê Vũ Tân, Bệnh viện Bình Dân, xu hướng tính dục chỉ phản ánh trường hợp bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc tình dục, không quyết định chức năng sinh sản của một người.

"Nhiều người vô tình tạo áp lực tâm lý cho bản thân vì nghĩ rằng thuộc cộng đồng LGBT đồng nghĩa không thể có con. Về mặt sinh học, đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau", bác sĩ Tân giải thích.

Nam giới đồng tính hoặc song tính vẫn có thể sản xuất tinh trùng bình thường, trong khi nữ giới đồng tính hoặc song tính vẫn có buồng trứng, tử cung và khả năng tạo trứng như người dị tính nếu không mắc bệnh lý sinh sản. Với người chuyển giới, khả năng sinh sản có thể bị ảnh hưởng bởi hormone hoặc phẫu thuật, song vẫn có cơ hội làm cha mẹ nếu chủ động bảo tồn tinh trùng, trứng hoặc phôi từ sớm.

Người LGBT có con ruột bằng cách nào?

Tùy đặc điểm sinh học và hoàn cảnh từng người, bác sĩ chỉ định các giải pháp hỗ trợ sinh sản khác nhau.

Với cặp đôi nam đồng tính, để có con cùng huyết thống thường cần kết hợp nhiều kỹ thuật y học như lấy tinh trùng, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF hoặc ICSI), sử dụng trứng hiến tặng và người mang thai hộ. Em bé sinh ra sẽ mang ADN của người cung cấp tinh trùng.

Trong khi đó, cặp đôi nữ đồng tính có nhiều lựa chọn hơn do cả hai đều có khả năng mang thai. Một số trường hợp sử dụng tinh trùng hiến tặng để thụ tinh nhân tạo (IUI). Trường hợp khác có thể thực hiện IVF, lấy trứng từ một người để tạo phôi rồi chuyển sang tử cung người còn lại mang thai.

Một kỹ thuật được áp dụng cho các cặp đôi nữ đồng tính là phương pháp ROPA (IVF nhận trứng từ bạn đời). Theo đó, một người cung cấp trứng, người còn lại mang thai, giúp cả hai cùng tham gia vào quá trình sinh con về mặt sinh học và cảm xúc.

Với người chuyển giới, TS.BS Lê Vũ Tân khuyến nghị nên tư vấn bảo tồn sinh sản trước khi sử dụng hormone hoặc can thiệp phẫu thuật chuyển giới nếu vẫn mong muốn có con trong tương lai. Người chuyển giới nữ có thể trữ tinh trùng, còn người chuyển giới nam có thể trữ trứng hoặc phôi trước điều trị.

"Đây là bước nhiều người bỏ qua khi còn trẻ, đến khi muốn có con mới nhận ra khả năng sinh sản đã suy giảm đáng kể", bác sĩ nói.

 Quỳnh Trần

Xét nghiệm cho người bệnh tại bệnh viện. Ảnh: Quỳnh Trần

Xu hướng tính dục không làm giảm chất lượng tinh trùng hay trứng

Đến nay chưa có bằng chứng khoa học cho thấy xu hướng tính dục ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tinh trùng hoặc trứng. Quá trình sinh tinh và sinh trứng được điều khiển chủ yếu bởi hormone, tuổi tác, yếu tố di truyền và tình trạng sức khỏe tổng thể.

Những yếu tố ảnh hưởng nhiều hơn đến khả năng sinh sản gồm hút thuốc lá, rượu bia, căng thẳng kéo dài, béo phì, bệnh lý nội tiết hoặc viêm nhiễm cơ quan sinh dục.

Trong nam khoa, tình trạng vô tinh - không có tinh trùng trong tinh dịch - có thể xảy ra ở bất kỳ nam giới nào, không riêng cộng đồng LGBT. Với những trường hợp này, bác sĩ có thể cân nhắc kỹ thuật micro-TESE, tức vi phẫu tích tìm tinh trùng trong tinh hoàn dưới kính hiển vi, nhằm tăng cơ hội tìm thấy tinh trùng phục vụ thụ tinh trong ống nghiệm.

Việt Nam hỗ trợ tới đâu?

Nhiều kỹ thuật như IVF, ICSI, trữ đông tinh trùng, trứng hay phôi hiện đã được triển khai tại Việt Nam, giúp mở rộng cơ hội làm cha mẹ cho người LGBT.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại những giới hạn pháp lý nhất định. Chẳng hạn, với cặp đôi nam đồng tính, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hiện chưa áp dụng cho các cặp cùng giới, khiến hành trình có con gặp nhiều rào cản hơn.

Trong khi đó, phụ nữ độc thân tại Việt Nam có thể tiếp cận một số hình thức hỗ trợ sinh sản theo quy định, mở ra cơ hội cho phụ nữ đồng tính muốn làm mẹ.

Bác sĩ Tân khuyến cáo phụ huynh không nên mặc định con thuộc LGBT là "không thể sinh con" hoặc mất cơ hội xây dựng gia đình. "Y học đã tiến rất xa, điều quan trọng là người trẻ cần được tiếp cận thông tin đúng và tư vấn sớm để không bỏ lỡ cơ hội làm cha mẹ trong tương lai", bác sĩ nói.

Lê Phương

Read Entire Article