Bộ Tư pháp đề xuất kiểm soát chặt chẽ hơn việc nhận con nuôi nhằm tăng cường sàng lọc để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ, hạn chế tách trẻ khỏi gia đình gốc.
Trong dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) đang được Bộ Tư pháp xây dựng, điều kiện của người được nhận làm con nuôi được bổ sung theo hướng chặt chẽ hơn cả về độ tuổi, điều kiện hoàn cảnh.
Theo Luật Nuôi con nuôi hiện hành, trẻ dưới 16 tuổi có thể được nhận làm con nuôi; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được nhận làm con nuôi trong một số trường hợp đặc biệt như được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận nuôi.
Tại dự thảo mới, Bộ Tư pháp đề xuất bổ sung điều kiện về hoàn cảnh gia đình và xã hội của trẻ em. Theo đó, trẻ em được nhận làm con nuôi phải thuộc một trong các trường hợp: mồ côi cả cha và mẹ, bị bỏ rơi hoặc không nơi nương tựa theo quy định của pháp luật về trẻ em.
Cơ quan soạn thảo cho rằng việc bổ sung điều kiện này nhằm bảo đảm chỉ những trẻ em thực sự không còn khả năng được chăm sóc trong môi trường gia đình gốc mới được giải quyết cho làm con nuôi. Mục tiêu là tránh tình trạng trẻ em bị tách khỏi cha mẹ và gia đình một cách không cần thiết, đồng thời bảo đảm quyền của trẻ được sống cùng cha mẹ đẻ theo đúng nguyên tắc của pháp luật về trẻ em.
Thay vì việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em, cơ quan soạn thảo cho rằng cần đảm bảo yêu cầu bảo vệ tối đa quyền được sống trong gia đình gốc trước khi xem xét đến giải pháp cho làm con nuôi.
Dự thảo cũng bổ sung quy định cụ thể về khoảng cách tuổi giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Luật hiện hành chỉ yêu cầu người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Ngoài điều kiện tối thiểu này, pháp luật chưa đặt ra bất kỳ giới hạn nào về độ tuổi tối đa.
Dự thảo luật giữ nguyên yêu cầu người nhận con nuôi phải hơn người được nhận làm con nuôi ít nhất 20 tuổi nhưng đồng thời bổ sung quy định khoảng cách tối đa là 50 tuổi. Trường hợp đặc biệt, khoảng cách này có thể lớn hơn nếu việc nhận con nuôi được xác định là vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Đối với trường hợp vợ chồng cùng nhận con nuôi, khoảng cách tuổi được tính theo người ít tuổi hơn trong hai người.
Theo cơ quan soạn thảo, quy định mới được đưa ra nhằm hạn chế sự chênh lệch quá lớn về tuổi tác giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Khoảng cách tuổi quá xa có thể dẫn tới khác biệt đáng kể về tâm sinh lý, ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc, giáo dục và đồng hành cùng trẻ trong quá trình trưởng thành.
Bên cạnh đó, việc giới hạn độ tuổi còn nhằm bảo đảm người nhận con nuôi có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ cho đến khi trưởng thành. Trong bối cảnh số lượng trẻ em có nhu cầu được nhận làm con nuôi không nhiều, trong khi số lượng người có nhu cầu nhận con nuôi ngày càng tăng, cơ quan soạn thảo cho rằng cần thiết phải xây dựng các tiêu chí chặt chẽ hơn để lựa chọn gia đình phù hợp nhất cho trẻ em.
Dự thảo luật cũng bổ sung một số trường hợp không được nhận con nuôi. Theo quy định hiện hành, người đang bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, đang chấp hành hình phạt tù hoặc chưa được xóa án tích đối với một số tội danh liên quan đến xâm hại con người và trẻ em sẽ không được nhận con nuôi.
Dự thảo tiếp tục kế thừa các quy định này nhưng đồng thời bổ sung nhóm đối tượng mới. Đó là những người đã bị kết án phạt tù nhưng được hưởng án treo và vẫn đang trong thời gian thử thách đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người; các tội về bạo lực gia đình; hoặc các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình.
Theo cơ quan soạn thảo, mặc dù không phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ nhưng những người đang trong thời gian thử thách án treo vẫn là đối tượng cần được quản lý, giám sát theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, lợi ích của trẻ em có thể bị ảnh hưởng nếu người nhận con nuôi chưa bảo đảm đầy đủ các điều kiện về môi trường sống, đạo đức và khả năng chăm sóc trẻ.
Báo cáo tổng kết thi hành Luật Nuôi con nuôi từ 2010 cho thấy nhiều địa phương còn gặp vướng mắc trong việc xác minh điều kiện của người nhận con nuôi, đánh giá mục đích thực sự của việc nhận nuôi và xác định những trường hợp phù hợp để cho trẻ em làm con nuôi.
Trong khi đó, các khuyến nghị quốc tế về bảo vệ trẻ em cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc thẩm định người nhận con nuôi, bảo đảm mọi quyết định liên quan đến trẻ em đều phải xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ.
Trên cơ sở đó, dự thảo Luật Nuôi con nuôi sửa đổi lựa chọn hướng tiếp cận thận trọng hơn, vừa siết chặt điều kiện của người nhận con nuôi, vừa thu hẹp phạm vi trẻ em được cho làm con nuôi. Luật mới sẽ tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong quá trình xác nhận và đánh giá điều kiện; bảo đảm tìm được môi trường phù hợp nhất cho sự phát triển lâu dài của trẻ.
Luật Nuôi con nuôi sửa đổi dự kiến được trình Quốc hội cho ý kiến vào cuối năm nay.
Sơn Hà






