GS Nguyễn Đức Khương: Cần đào tạo tư duy làm chủ công nghệ thay vì để AI dẫn dắt

2 小时前 6

Theo GS Nguyễn Đức Khương, công nghệ - chìa khoá để chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam - chỉ phát huy tác dụng khi đi cùng nguồn nhân lực đủ khả năng hấp thụ.

Bên lề Hội thảo châu Á của Hiệp hội Kinh tế lượng - Đông và Đông Nam Á (AMES 2026) ngày 1/8, GS Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch AVSE Global, nhà nghiên cứu cấp cao tại Đại học Cambridge, chia sẻ những thách thức và giải pháp để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tiến tới mục tiêu nước thu nhập cao vào năm 2045.

Sự kiện do AVSE Global, Hiệp hội Kinh tế lượng và Trường Đại học Thương mại phối hợp tổ chức, quy tụ gần 300 học giả và nhà hoạch định chính sách từ Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các trường đại học hàng đầu như Harvard, MIT, Cambridge...

- Đưa Việt Nam thành nước thu nhập cao vào năm 2045 là mục tiêu trăm năm Đảng đề ra từ đầu năm. Theo ông, đâu là những thách thức để hiện thực hóa mục tiêu này?

- Để đạt mục tiêu 2045, Việt Nam cần quan tâm giải quyết ba thách thức, đặc biệt trong giai đoạn 2026-2030. Thứ nhất là thách thức liên quan đến năng suất lao động, từ đó giải quyết câu chuyện lớn hơn là cải thiện năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Chỉ số này đo lường hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào gồm vốn, lao động, công nghệ, đổi mới sáng tạo...

 ĐH Thương Mại

GS Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch AVSE Global, tại sự kiện. Ảnh: ĐH Thương Mại

Bên cạnh đó, nhà điều hành cũng cần giải quyết thách thức liên quan đến năng lực của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt nhóm vừa và nhỏ. Đây là lực lượng đông đảo nhưng khả năng hấp thụ công nghệ còn hạn chế, đặc biệt trong thời kỳ chúng ta muốn thúc đẩy khoa học công nghệ, lấy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo làm nền tảng cho đổi mới mô hình tăng trưởng.

Một thách thức nữa là chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng vốn, lao động, tài nguyên sang mô hình dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xu thế này là không thể đảo ngược, sẽ giúp Việt Nam thay đổi cơ bản cách vận hành, sản sinh giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng rất quan trọng ở hiện tại. Bởi lẽ, chúng ta đang ở trước ngưỡng cửa cơ hội - giai đoạn gần như tất cả quốc gia có cùng khả năng tiếp cận công nghệ, trừ một số nước có lợi thế nhờ nền tảng khoa học công nghệ vững chãi. Tuy nhiên, công nghệ không phải yếu tố quyết định sự chuyển đổi của một nền kinh tế. Điều này chỉ xảy ra khi Việt Nam sở hữu lực lượng lao động có khả năng sử dụng công nghệ thông minh, phục vụ quá trình tăng trưởng.

 Anh Tú

Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến 2030 theo Nghị quyết của Quốc hội. Đồ họa: Anh Tú

- Làm thế nào để Việt Nam xây dựng được lực lượng lao động làm chủ công nghệ, sử dụng công nghệ thông minh như ông đề cập?

- Đó là một quá trình dài, bắt nguồn từ câu chuyện giáo dục và đào tạo, gồm chất lượng học sinh, sinh viên, chất lượng chương trình giảng dạy, đội ngũ giảng viên... Tất cả yếu tố này đều cần thời gian.

Trước mắt, cơ quan chức năng có thể ưu tiên cập nhật khoa học công nghệ có tính thực chiến cho toàn bộ đội ngũ lao động, ví dụ những chương trình trí tuệ nhân tạo (AI) thực chiến, AI bình dân học vụ... Các chương trình này nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân tiếp cận công nghệ mới, hiểu cách ứng dụng AI trong tăng năng suất lao động, cải thiện hiệu quả công việc hàng ngày, từ đó đóng góp vào hiệu quả của tổ chức.

Điều quan trọng nhất, người dùng cần lưu ý không phải là AI dẫn dắt con người, mà là con người nắm bắt AI, phục vụ cho sự phát triển tổ chức, xã hội, đất nước. Nếu chúng ta phụ thuộc vào AI, để công nghệ dẫn dắt mình thì lúc nào mình cũng phải chạy theo công nghệ. Do đó, điều cần thiết là đào tạo tư duy làm chủ công nghệ cho người lao động, thế hệ trẻ.

- Thách thức về năng suất lao động là câu chuyện được "nói mãi". Thị trường hiện tại có dấu hiệu tích cực nào để chỉ số năng suất này thực sự bứt phá không, theo ông?

- Việt Nam sẽ phải tập trung vào câu chuyện đào tạo, và vào những ngành chúng ta có lợi thế, được cho là công nghệ tương lai của Việt Nam. Một ví dụ là những ngành liên quan đến bán dẫn, lĩnh vực các tập đoàn lớn thế giới coi Việt Nam là "ứng cử viên nặng ký" cho các hoạt động đóng gói thông minh, tiên tiến, từ đó sản xuất, thiết kế những cái bộ chiplet (các mạch tích hợp nhỏ, dạng module, có thể kết hợp để tạo ra một mạch lớn hơn). Một ví dụ khác là những lĩnh vực công nghệ AI mới, khả năng tạo ra ứng dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh.

- Với bài toán nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, phần lớn trong số họ là quy mô nhỏ, vốn mỏng. Theo ông, nhà điều hành cần hỗ trợ họ "lớn" ra sao?

- Nhà điều hành sẽ phải xây dựng một chiến lược quốc gia về doanh nghiệp vừa và nhỏ, để giải quyết những bài toán rất sát sườn với họ. Các bài toán này gồm tiếp cận, sử dụng nguồn vốn như thế nào, hỗ trợ từ Nhà nước ra sao để xây dựng đội ngũ nghiên cứu và phát triển (R&D). R&D sẽ là nòng cốt cho những thay đổi về mô hình kinh doanh, thay đổi sản phẩm, quy trình sản xuất.

Bên cạnh đó, chúng ta cần trao quyền nhiều hơn cho các doanh nghiệp, giúp họ có hành lang thể chế thông thoáng để phát triển, lớn mạnh, tăng về quy mô, năng lực quản lý, điều hành và sản xuất. Trên nền tảng này, một khi có làn sóng công nghệ mới, khả năng hấp thụ công nghệ của họ cũng được nâng cao.

Khi làm theo cách mới, chúng ta có thể kỳ vọng một kết quả mới và tốt hơn.

Thủy Trương

阅读全文