Lấn chiếm đất công, phản ánh đến đâu để được xử lý?

12 시간 전 17

đất công - Ảnh 1.

Muốn sử dụng nhà, đất công phải thuê của nhà nước - Ảnh: NHẬT LINH

Một hộ dân lấn chiếm đất công, thậm chí còn xây dựng đè lên cống thoát nước chung, người dân phản ánh nhiều lần mà chưa được xử lý. Chúng tôi muốn biết ai được sử dụng đất công cộng, pháp luật quy định như thế nào về trường hợp lấn chiếm đất công? (một bạn đọc).

Muốn sử dụng đất công phải thuê đất

Thạc sĩ Ngô Gia Hoàng, Trường Đại học Luật TP.HCM trả lời:

Theo khoản 1 điều 3 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, trong đó bao gồm đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác.

Luật Đất đai 2024 cũng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Vì vậy, về mặt pháp lý, toàn bộ đất đai ở Việt Nam đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Thực tế, người dân thường phân biệt giữa "đất công" và "đất tư". 

Trong đó, "đất công" được hiểu là đất do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc giao cho các cơ quan, tổ chức quản lý để phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích xã hội hoặc hoạt động công vụ. 

Ví dụ như đất làm đường giao thông, công viên, trường học, bệnh viện công...

Còn "đất tư" là đất đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã,... sử dụng ổn định, lâu dài hoặc có thời hạn.

Theo điều 9 Luật Đất đai 2024, đất có cống thoát nước là đất công trình cấp nước, thoát nước là một loại đất sử dụng vào mục đích công cộng.

Điều 207 Luật Đất đai 2024 quy định việc sử dụng đất sử dụng vào mục đích công cộng phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch chuyên ngành đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và yêu cầu phải phân định rõ phần diện tích sử dụng để kinh doanh và không kinh doanh.

Đất không kinh doanh thì Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; còn trường hợp khai thác đất để kinh doanh thì phải thuê đất theo quy định pháp luật. 

Như vậy, đất thuộc khu vực cống thoát nước công cộng sẽ do chính quyền địa phương và cơ quan được giao quản lý có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, phát hiện vi phạm và xử lý kịp thời nhằm bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng dân cư.

Theo Luật Đất đai, người sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân thủ các quy định pháp luật.

Hành vi xây dựng đè lên công thoát nước có dấu hiệu chiếm đất và xâm phạm công trình hạ tầng công cộng.

Chiếm đất công có thể bị phạt đến 200 triệu 

Theo khoản 1 điều 13 Nghị định 123 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì người lấn đất hoặc chiếm đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý có thể bị xử phạt từ 3 - 200 triệu đồng tùy theo diện tích đất lấn, chiếm.

Người vi phạm còn bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm, nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.

Nếu người lấn, chiếm đất đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (điều 228 Bộ luật Hình sự 2015), bị phạt tiền với mức cao hơn hoặc phạt tù lên đến 7 năm.

Chủ tịch UBND cấp xã và cấp tỉnh có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật đất đai tại địa phương; phải thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý các hành vi lấn đất, chiếm đất, hủy hoại đất, sử dụng đất sai mục đích...

Luật cũng quy định người dân có quyền trực tiếp phản ánh sai phạm và kiến nghị yêu cầu xử lý sai phạm trong việc sử dụng đất. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải xử lý và trả lời bằng văn bản; nếu không thuộc thẩm quyền thì phải chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo kết quả cho người dân.

Nếu người dân đã phản ánh nhiều lần suốt 5 năm nhưng chính quyền địa phương không xử lý hoặc xử lý không dứt điểm thì cần xem xét trách nhiệm quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương. 

Người dân tổng hợp các bằng chứng về vụ việc như: đơn phản ánh đã gửi, có phiếu hẹn hoặc xác nhận nhận đơn, hình ảnh/video về hiện trạng lấn chiếm trong 5 năm qua, biên bản làm việc hoặc các văn bản trả lời không thỏa đáng từ phía chính quyền địa phương. 

Những tài liệu này gửi cùng đơn phản ánh đến UBND cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan thanh tra hoặc phản ánh qua đường dây nóng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường để yêu cầu kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền.

Trường hợp có căn cứ cho rằng chính quyền cấp cơ sở có dấu hiệu bao che, chậm xử lý hoặc không thực hiện đúng trách nhiệm quản lý đất đai, người dân có quyền làm đơn tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai đến các cơ quan trên.

전체 기사 읽기