Những khoảng trống cần xóa để tự chủ công nghệ chip Việt

8 시간 전 11

Nhân lực và đi sau là lợi thế khi Việt Nam phát triển ngành vi mạch bán dẫn, nhưng để làm chủ công nghệ thực sự vẫn còn những khoảng trống cần lấp đầy, theo TS Lê Quang Đạm.

Trao đổi với VnExpress, TS Lê Quang Đạm, Tổng giám đốc Marvell Việt Nam, bày tỏ sự lạc quan về chủ trương phát triển ngành công nghiệp bán dẫn của Việt Nam. Ông đặt nền móng cho Marvell tại Việt Nam năm 2013 khi năng lực thiết kế vi mạch của Việt Nam chưa được thế giới đánh giá cao. Đến nay, doanh nghiệp hình thành đội ngũ kỹ sư thiết kế vi mạch trong nước với hơn 600 nhân sự, tham gia nghiên cứu những chip tiên tiến nhất với công nghệ 2-3 nm sử dụng trong các trung tâm dữ liệu AI.

 NVCC

TS Lê Quang Đạm, Tổng giám đốc Marvell Việt Nam. Ảnh: NVCC

- Ông nói Việt Nam có thể làm được mọi công đoạn trong thiết kế vi mạch, với những chip 2-3 nm tiên tiến nhất. Nhưng còn việc tự chế tạo một chip trong nước thì sao?

- Ngành công nghệ vi mạch bán dẫn chia làm ba công đoạn chính: thiết kế, sản xuất, đóng gói và kiểm thử. Với việc Viettel khởi công nhà máy sản xuất, FPT khởi công nhà máy đóng gói, kiểm thử, trong vài năm tới, Việt Nam sẽ có đầy đủ cả ba công đoạn để phát triển ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn hoàn chỉnh. Tuy nhiên, năng lực và tiềm năng thực tế của mỗi công đoạn khác nhau.

Về thiết kế, sự hiện diện của Việt Nam trên toàn cầu ngày càng rõ nét. So với Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, Việt Nam đóng góp vai trò quan trọng hơn nhiều trong lĩnh vực thiết kế vi mạch. Chúng ta có cơ hội để phát triển hơn nữa cả về chất lượng, số lượng nhân sự để trở thành mắt xích quan trọng trong lĩnh vực thiết kế vi mạch của thế giới.

Về sản xuất, có thể nói, cả năng lực và tiềm năng đều "nhỏ" hơn. Theo tôi, mục tiêu trước mắt không phải sản xuất chip với những công nghệ mới nhất hay cạnh tranh trực tiếp với nhà sản xuất hàng đầu, mà là đảm bảo chủ quyền công nghệ và phục vụ cho thị trường trong nước. Như Viettel đề cập tại lễ khởi công, chúng ta đáp ứng các nhu cầu quốc phòng, nhu cầu của doanh nghiệp trong nước sản xuất chip với công nghệ 28-32 nm cho thiết bị điện tử tiêu dùng. Ngoài ra, nhà máy cũng sẽ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, đào tạo.

Về công đoạn đóng gói và kiểm thử, Việt Nam có thể có thị trường rộng hơn với những khách hàng trong và ngoài nước khi nhu cầu ngày càng cao. Với sự phát triển của AI, rất nhiều công ty thiết kế chip nhưng không thể tìm được đối tác sản xuất, đóng gói và kiểm thử, vì các tập đoàn lớn đã chiếm gần hết năng lực sản xuất của TSMC, Intel, Samsung... Do đó, đầu ra của các doanh nghiệp đóng gói kiểm thử Việt Nam, đặc biệt khi chúng ta có thể làm chủ công nghệ đóng gói tiên tiến, khá rộng mở.

- Trong vài năm tới, khi xây dựng được một chuỗi bán dẫn hoàn chỉnh, ông dự đoán vị trí trong ngành của Việt Nam trên toàn cầu sẽ ra sao?

- Vị trí, vai trò của Việt Nam trong bức tranh tổng thể ngành vi mạch bán dẫn thế giới chắc chắn tốt hơn nhiều hiện nay. Không nhiều nước có công đoạn sản xuất chip, đóng gói và kiểm thử. Đa số tập trung vào một lĩnh vực như thiết kế hoặc cung ứng vật liệu hiếm cho ngành, còn Việt Nam sẽ có đầy đủ công đoạn.

Khi các nhà máy đi vào hoạt động hiệu quả, Việt Nam sẽ có sự hiện hữu khá rõ ràng trong ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn toàn cầu. Cụ thể, Việt Nam có năng lực thiết kế, sản xuất đáp ứng một số nhu cầu nội địa về quốc phòng, điện tử và thúc đẩy đào tạo, nghiên cứu phát triển, đóng gói và kiểm thử phục vụ các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Tuy vậy, để trở thành một mắt xích lớn, quan trọng và cạnh tranh toàn cầu sẽ cần có thời gian để kiểm chứng xem chúng ta có khả năng mở rộng quy mô, nâng cấp công nghệ sản xuất đóng gói và kiểm thử đến mức độ nào.

- Với những bước đầu như hiện nay, chúng ta cần chủ động chế tạo chip trong nước như thế nào để tránh kỳ vọng thiếu thực tế?

- Đó là việc sản xuất những chip với công nghệ 28-32 nm ở quy mô phục vụ thị trường điện tử tiêu dùng trong nước, sản phẩm quốc phòng, mục tiêu đào tạo và nghiên cứu.

Chip bán dẫn có nhiều phân khúc khác nhau. Trước mắt, năng lực sản xuất của Việt Nam chưa thể đáp ứng nhu cầu chế tạo những con chip công nghệ mới nhất, nhưng có thể tạo ra những chip sử dụng trong thiết bị điện tử tiêu dùng như thiết bị IoT, đồ gia dụng.

Thực tế, chip đơn vẫn đang chiếm 50% hoặc hơn về số lượng trên thị trường và có thể được sản xuất bằng công nghệ 28-32 nm của nhà máy mà Viettel đang xây dựng. Hiện đây vẫn là công nghệ phổ biến và đáp ứng rất tốt cho ngành hàng điện tử.

 Viettel

Nhà máy sản xuất chip của Viettel, dự kiến hoạt động năm 2030, giúp Việt Nam có đầy đủ các công đoạn thiết kế, sản xuất, đóng gói chip. Ảnh: Viettel

- Việt Nam có những điểm mạnh, lợi thế nào để phát triển ngành vi mạch bán dẫn?

- Việt Nam có hai lợi thế lớn.

Thứ nhất, là nước đi sau, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm và tránh những thất bại mà các nước khác đã vấp phải. Cụ thể là về việc xây dựng quy trình sản xuất, quy trình đóng gói và kiểm thử, lên kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng về điện, nước, nguyên liệu hiếm một cách hiệu quả. Thời gian từ khi khởi công cho đến khi đưa nhà máy sản xuất chip vào vận hành của chúng ta có thể ngắn hơn so với các nước trước đây, rút ngắn thời gian thu hồi vốn và nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường.

Thứ hai, về nhân lực, Việt Nam có nguồn sinh viên trong các chuyên ngành vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, cũng như các ngành khoa học kỹ thuật lân cận, ngày càng mở rộng. Đây là định hướng rất đúng đắn của Chính phủ, tạo ra nguồn cung kỹ sư chất lượng cao cho ngành bán dẫn trong tương lai. Trong khi đó, ở các nước Đông Nam Á hay trên thế giới nói chung, nguồn nhân lực này có xu hướng giảm đi.

- Nhưng có ý kiến cho rằng Việt Nam thiếu vốn đầu tư?

- Với một nhà máy sản xuất chip công nghệ 28-32 nm như Viettel triển khai, tôi ước tính số vốn cần đầu tư có thể khoảng 2 tỷ USD. Ngoài ra, chi phí duy trì, vận hành nhà máy mỗi năm có thể khoảng 300 triệu USD. Đây đúng là những con số lớn, nhưng không vượt ngoài khả năng của Việt Nam cho một công nghệ chiến lược.

Nói khó khăn về công nghệ hay thiết bị bán dẫn, tôi cũng không cho đó là điểm then chốt, vì thế hệ công nghệ này chúng ta có thể mua và nhận chuyển giao.

- Vậy đâu mới là điểm yếu, nút thắt cần tháo gỡ của bán dẫn Việt Nam?

- Tất nhiên bức tranh không hoàn toàn màu hồng. Trong chính lợi thế về nhân lực, có những điểm có thể làm tốt hơn. 10 năm qua, Marvell đã xây dựng đội ngũ kỹ sư từ sinh viên học ở những trường đại học tại Việt Nam với nền tảng khoa học cơ bản (toán, lý, hóa, điện tử, máy tính) vững chắc, tư duy phản biện tốt, tinh thần cầu tiến, ham học hỏi. Nhưng cũng phải nhìn nhận thực tế, chất lượng sinh viên của Việt Nam chưa thể bằng các trường hàng đầu của thế giới về chuyên môn, kinh nghiệm làm dự án, kỹ năng mềm.

Theo quan điểm của tôi, ưu tiên hàng đầu để phát triển ngành bán dẫn nên là phát triển nguồn nhân lực số lượng lớn, chất lượng cao đồng đều, đủ năng lực để sẵn sàng làm việc ngay khi tốt nghiệp mà không cần trải qua một quá trình đào tạo thêm lâu dài ở doanh nghiệp.

Cơ sở hạ tầng cũng là điểm cần cải thiện để đảm bảo cho việc sản xuất chip nội địa. Nguồn cung điện, nước của Việt Nam chưa được đầy đủ, ổn định khi so sánh với một số nước lân cận như Malaysia, Indonesia hay Thái Lan. Hệ thống mạng cáp quang biển cũng chưa sánh ngang được với những nước lân cận.

Hạ tầng là yếu tố cần sự đầu tư lớn, đồng bộ từ Chính phủ và các doanh nghiệp năng lượng, viễn thông để đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành bán dẫn.

- Sau khi đã có sản phẩm, Việt Nam còn cần những mắt xích nào để tạo thành một hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn hoàn chỉnh?

- Khi phát triển công nghiệp vi mạch bán dẫn hay các ngành công nghệ cao nói chung, đôi lúc chúng ta tập trung quá nhiều vào những gì mình có thể làm được nhưng mình quên một điều rất quan trọng là đầu ra, sản phẩm đáp ứng được nhu cầu nào của khách hàng và thị trường. Ở đây sẽ cần vai trò điều phối và hỗ trợ của nhà nước. Thiếu thị trường, cho dù chúng ta có sản phẩm và công nghệ, ngành công nghiệp sẽ không phát triển được.

Thứ nhất, ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam phải sẵn sàng mở cửa để dùng chip nội địa. Hiện nay, do nhiều yếu tố, đa số hàng điện tử Việt Nam sử dụng những con chip Trung Quốc hoặc Đài Loan. Chúng ta cần có một chính sách thống nhất từ nhà nước làm sao để khuyến khích sử dụng hoặc bảo hộ chip Việt.

Thứ hai, các doanh nghiệp thiết kế vi mạch trong nước, với những dòng thiết kế mà năng lực sản xuất trong nước có thể đáp ứng, cần hợp tác với Viettel, FPT để sản xuất ra những chip với giá hợp lý hoặc cạnh tranh hơn so với các sản phẩm nước ngoài sẵn có trên thị trường. Điều này có thể thực hiện thông qua chương trình hỗ trợ, trợ giá sản xuất của Chính phủ để thúc đẩy sự phát triển của chip nội địa.

Với những yếu tố đó, chúng ta sẽ tạo ra sự phối hợp từ thiết kế đến sản xuất, đưa chip vào sử dụng cho ngành điện tử trong nước. Đây là cách chúng ta có thể tận dụng việc có cả ba công đoạn để tạo thành một chuỗi hoàn chỉnh, tạo đà cho ngành bán dẫn Việt Nam tiếp tục phát triển.

Nam Nguyễn

전체 기사 읽기