'Phần lớn tín dụng xanh tập trung vào các dự án lớn'

2 시간 전 19

Tín dụng xanh chỉ chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ, phần lớn tập trung vào dự án quy mô lớn, chưa thực sự đến được khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo đại diện Ban IV.

Tại hội thảo "Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh" chiều 23/6, TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), nêu thực trạng khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thực sự "với" tới tín dụng xanh.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tín dụng xanh đạt tổng dư nợ 828.000 tỷ đồng tính đến hết quý I. Dù số này gấp 4,6 lần so với dư nợ năm 2017 (năm đầu triển khai), tỷ trọng trên tổng dư nợ toàn nền kinh tế chỉ khoảng 4,3%. Dư nợ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, chiếm trên 32%, còn năng lượng xanh chiếm trên 30%.

Từ dữ liệu trên, TS Minh chỉ ra rằng dòng vốn xanh chủ yếu rót vào những dự án quy mô lớn, có mô hình rõ ràng, tài sản đảm bảo, đáp ứng yêu cầu thẩm định của ngân hàng. Dòng vốn này chưa thực sự đến được doanh nghiệp vừa và nhỏ - khu vực với các khoản đầu tư nhỏ, phân tán và khó chuẩn hóa.

 Lao động

TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban IV, tại sự kiện. Ảnh: Lao động

Trong khi đó, theo đại diện Ban IV, phần lớn phát thải, lãng phí năng lượng, sử dụng tài nguyên kém hiệu quả và rủi ro môi trường đang nằm rải rác trong hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ, nhà cung ứng và các mắt xích nhỏ hơn trong chuỗi giá trị.

"Nếu chính sách tài chính xanh chỉ phù hợp với doanh nghiệp lớn, quá trình chuyển đổi xanh sẽ thiếu tính bao trùm", ông nêu vấn đề. Khi đó, doanh nghiệp nhỏ sẽ đối diện với rủi ro kép, vừa khó tiếp cận vốn để chuyển đổi, vừa có nguy cơ mất thị trường vì không đáp ứng được các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe.

Thực tế, 97-98% doanh nghiệp Việt có quy mô vừa và nhỏ, 80% trong số đó không có lịch sử tiếp cận tín dụng. Tức là, ngay cả với tín dụng thông thường, họ cũng khó vay. Trong khi đó, tín dụng xanh đi kèm yêu cầu đặc thù, như chuẩn hóa dữ liệu, quy trình, mô hình quản trị cho đến các tiêu chí xác định "thế nào là xanh". Những yêu cầu này khiến họ quẩn quanh, bởi muốn chuyển đổi xanh, họ lại cần vốn.

Thực tiễn tại Agribank, họ cho vay xanh được 28.000 tỷ đồng, quá nửa tập trung vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó trưởng Ban Chính sách tín dụng ngân hàng, cho biết một trong những khó khăn của họ công tác cân đối nguồn vốn, do dự án xanh thường cần vốn dài hạn, lãi suất thấp. Bên cạnh đó, phần lớn khách hàng chưa có đầy đủ hồ sơ môi trường, năng lực lập báo cáo ESG còn yếu, quy mô sản xuất thường nhỏ lẻ và thiếu tài sản bảo đảm.

Tài sản đảm bảo là nỗi khổ của nhiều doanh nghiệp nhỏ khi tiếp cận vốn. Đại diện Ban IV nêu đây là lý do một doanh nghiệp nuôi biển ở Quảng Ninh không thể tiếp cận vốn xanh, dù mô hình tốt. TS Minh khuyến nghị tiêu chí và quy trình xác nhận dự án xanh cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa cần đơn giản, thay vì áp chung hồ sơ với doanh nghiệp lớn.

Bên cạnh đó, ông Minh cho rằng chính sách hỗ trợ cần chuyển từ "cho vay xanh" sang "giúp doanh nghiệp đủ điều kiện vay xanh". Trong đó, trách nhiệm của Nhà nước trong vai trò "bà đỡ" cần được xác định rõ, thay vì đặt gánh nặng lên vai ngân hàng thương mại. Bởi lẽ, ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc thị trường và lợi nhuận. Đại diện Ban IV khuyến nghị Nhà nước sử dụng nguồn lực ngân sách để cấp bù lãi suất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận mức hỗ trợ lãi suất 2%.

Ông Minh cũng nhấn mạnh tư duy xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ. Ngoài chuyển đổi xanh, nền tảng hỗ trợ cần gắn với chuyển đổi số. "Nếu có một cơ quan trung gian số hóa toàn bộ dữ liệu liên quan đến chuyển đổi xanh, kết nối với hệ thống ngân hàng, việc tiếp cận vốn sẽ thuận lợi hơn rất nhiều", ông nói. Khi đó, doanh nghiệp chỉ cần nhập thông tin, tọa độ địa lý để tra cứu dữ liệu về mức tiêu thụ điện, nước, phát thải..., từ đó từng bước hoàn thiện dữ liệu phục vụ đánh giá tín dụng xanh.

Với dữ liệu đầy đủ, ngân hàng hoàn toàn có thể đưa ra quyết định cho vay xanh. Điều này giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ chế chia sẻ trách nhiệm và lợi ích giữa các bên trong hệ sinh thái.

Các chuyên gia cũng đồng thuận rằng thị trường tín chỉ carbon cần đi vào hoạt động thực chất. Khi doanh nghiệp chuyển đổi, việc tạo ra lượng tín chỉ carbon và bán được trên sàn sẽ là nguồn tài chính bổ sung, để họ tái đầu tư vào hoạt động kinh doanh.

Thủy Trương

전체 기사 읽기