Ngoại giao công nghệ: Không chỉ 'đón đại bàng', phải 'bay cùng đại bàng'

13 小时前 9

Chuyển từ đi xin tài trợ, viện trợ sang hợp tác cùng có lợi trong khoa học - công nghệ với nước ngoài - Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang - Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - phát biểu tại phiên họp về ngoại giao khoa học - công nghệ ngày 5-8 - Ảnh: DANH KHANG

Nhân dịp về nước dự Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, trao đổi bên lề với Tuổi Trẻ, nhiều đại sứ/trưởng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cùng chung nhận định: Việt Nam cần làm chủ công nghệ lõi/công nghệ nguồn. Không thể chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận hay chuyển giao công nghệ.

Chuyển trọng tâm từ thu hút vốn sang trí thức

Trong nhiều năm, cụm từ "đón đại bàng" được dùng để nói về nỗ lực thu hút các tập đoàn lớn. Nhưng với công nghệ, chỉ đón đại bàng thôi chưa đủ.

Vấn đề quan trọng hơn là đại bàng có "làm tổ" lâu dài hay không: có kéo theo chuỗi cung ứng, tạo việc làm chất lượng cao, và giúp doanh nghiệp Việt Nam học cách tham gia những khâu tinh vi hơn hay không.

Nói cách khác, không chỉ "dọn tổ đón đại bàng" mà còn cần học cách "bay cùng đại bàng". Để làm được điều đó, có rất nhiều câu hỏi đặt ra, đòi hỏi sự chủ động hơn nữa.

Chẳng hạn, một địa phương muốn phát triển trung tâm bán dẫn không chỉ cần hỏi đối tác nào phù hợp, mà còn phải tự hỏi điều kiện sở tại đã đáp ứng được chưa?

Một trường đại học muốn đào tạo kỹ sư AI cần xem giáo trình, chuyên gia và phòng thí nghiệm như thế nào? Hay một doanh nghiệp Việt Nam muốn bước vào chuỗi cung ứng công nghệ cao, ngoài năng lực sẵn có, cần hỏi lợi thế cạnh tranh là gì,…

Tại phiên họp "Ngoại giao khoa học - công nghệ góp phần kiến tạo năng lực phát triển quốc gia" ngày 5-8, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang - Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - nhấn mạnh: "Ngoại giao khoa học - công nghệ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị".

Ông cho rằng cần thống nhất nhận thức về ngoại giao khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên mới: "Chuyển từ đi xin tài trợ, viện trợ sang thúc đẩy hợp tác cùng có lợi giữa Việt Nam và các đối tác". Đồng thời cần linh hoạt, nhạy bén phát hiện những khâu mà chúng ta có thể phát huy hiệu quả nhất.

Cũng theo ông, cần chuyển trọng tâm từ thu hút vốn đầu tư sang thu hút trí thức, công nghệ. Các cam kết, thỏa thuận cấp cao cần có kế hoạch triển khai cụ thể, với kết quả và sản phẩm đầu ra rõ ràng.

Với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, ông Lương Tam Quang đề nghị thúc đẩy xây dựng mạng lưới đối tác, công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và chuyên gia. Đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Trong đó đặc biệt là xây dựng bản đồ cơ hội của địa bàn, xác định rõ tập đoàn, quỹ đầu tư, viện nghiên cứu, trường đại học trọng điểm có nhiều tiềm năng.

Thêm vào đó cần xây dựng và củng cố cơ chế phối hợp, đặt hàng giữa các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với các bộ, ngành, địa phương, đơn vị tổ chức trong nước.

Ở trong nước, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị dự án, cơ chế, mặt bằng, nhân lực và điều kiện tiếp nhận. Cơ hội bên ngoài chỉ trở thành nguồn lực khi bên trong sẵn sàng, đồng thời có cơ chế đặt hàng ngược lại với các cơ quan đại diện ở nước ngoài.

Thúc đẩy đồng kiến tạo trong khoa học - công nghệ

Chuyển từ đi xin tài trợ, viện trợ sang hợp tác cùng có lợi trong khoa học - công nghệ với nước ngoài - Ảnh 6.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng phát biểu tại phiên họp "Ngoại giao khoa học công nghệ góp phần kiến tạo năng lực phát triển quốc gia" ngày 5-8 - Ảnh: DANH KHANG

Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hiện nay không chỉ cần gõ cửa nhà đầu tư. Họ còn phải đọc được bản đồ công nghệ của thế giới: biết phòng thí nghiệm nào đang dẫn đầu, tập đoàn nào đang dịch chuyển chuỗi cung ứng, trường đại học nào có thế mạnh đào tạo, và chính sách nào của địa bàn phụ trách có thể mở ra cơ hội hợp tác cho Việt Nam.

Dù thị trường Việt Nam không còn xa lạ với giới đầu tư Singapore, Việt Nam vẫn ngày càng hấp dẫn hơn với các doanh nghiệp công nghệ tại đảo quốc sư tử. Nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đặc biệt là chủ trương, định hướng phát triển ngày càng rõ nét chính là những yếu tố then chốt.

Theo Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh, không ít doanh nghiệp đã chủ động tìm đến vai trò "mai mối" của cơ quan đại diện Việt Nam. Trong số đó có một doanh nghiệp Mỹ chuyên sản xuất linh kiện cho các tập đoàn công nghệ lớn của thế giới, hiện đang xúc tiến xây dựng nhà máy tại Việt Nam.

"Trong quá trình theo đuổi dự án, doanh nghiệp đã tìm đến nhờ đại sứ quán và được chúng tôi giới thiệu, kết nối với TP.HCM. Hiện doanh nghiệp đang làm việc với các cơ quan của thành phố để sớm hoàn tất, do cần xây dựng và đưa nhà máy vào hoạt động từ năm 2027 nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng", ông Trần Phước Anh chia sẻ với Tuổi Trẻ.

Chuyển từ đi xin tài trợ, viện trợ sang hợp tác cùng có lợi trong khoa học - công nghệ với nước ngoài - Ảnh 7.

Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh trong một phiên họp Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 - Ảnh: DANH KHANG

Singapore cũng mang đến cho Việt Nam nhiều mô hình đáng tham khảo. Theo Đại sứ Trần Phước Anh, Đại sứ quán Việt Nam đã có báo cáo về hoạt động của Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu Singapore (A*STAR) - nơi được xem là hình mẫu biến ý tưởng thành sản phẩm trong thời gian ngắn nhất.

A*STAR khởi đầu từ nghiên cứu công nghệ cơ bản, sau đó kéo các viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng vào cuộc. Trung tâm R&D được đặt ngay tại chỗ, trước khi tiến tới thương mại hóa sản phẩm.

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước đến Singapore hồi tháng 5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến thăm Nhà máy mẫu cho công nghệ sản xuất tiên tiến của A*STAR (Model Factory). 

Phía Việt Nam cũng đã trao đổi với A*STAR để nghiên cứu khả năng hợp tác thành lập một trung tâm nghiên cứu tiên tiến tương tự trong nước.

Với Nhật Bản - cường quốc hàng đầu thế giới về khoa học và công nghệ, hợp tác giữa các doanh nghiệp cũng đang chuyển sang hình thức mới. Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tiếp nhận mà còn chủ động cung cấp, hợp tác phát triển dịch vụ tại Nhật Bản.

Ví dụ, các công ty như FPT, Sumitomo hay SPI Holding đang phát triển dịch vụ giải pháp tại Nhật Bản. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang dần chuyển từ gia công phần mềm sang tự thiết kế và xây dựng sản phẩm.

Việc hướng tới một số dự án cụ thể, tập trung nguồn lực để doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu Việt Nam cùng phát triển và đưa sản phẩm ra thị trường sẽ góp phần tăng hiệu quả hợp tác.

Tranh thủ nguồn lực từ kiều bào

Một lợi thế lớn của Việt Nam là cộng đồng trí thức, nhà khoa học, kỹ sư, doanh nhân người Việt trên toàn cầu. Họ đang làm việc trong các phòng thí nghiệm, trường đại học, tập đoàn công nghệ, quỹ đầu tư, trung tâm đổi mới sáng tạo ở nhiều nước phát triển.

Ví dụ, doanh nghiệp được Đại sứ Trần Phước Anh nhắc ở trên là của một Việt kiều. Điều đó cho thấy sự quan tâm của các doanh nhân, trí thức người Việt đối với quê hương. Họ không chỉ mang theo công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mà còn cả mong muốn được đóng góp, đầu tư trở lại cho đất nước.

Từ Singapore, nhiều trí thức người Việt đã trở về đóng góp cho quê hương. Theo Đại sứ Trần Phước Anh, hiện có hàng trăm kiều bào đang làm việc tại A*STAR và các đại học lớn ở Singapore. Để phát huy hơn nữa nguồn lực này, bên cạnh thu nhập hấp dẫn, cần tạo ra môi trường làm việc giúp họ cảm nhận được giá trị từ những đóng góp của bản thân cho quê hương.

Việc đơn giản hóa các thủ tục về thị thực, giấy phép lao động cũng là cách thiết thực để thể hiện sự chào đón của đất nước.

阅读全文