'Phát điên' khi không có điện thoại

13 giờ trước 10

Trên đường đến gặp đối tác, Hoàng đột ngột phanh xe, quay ngược gần 12 km về nhà khi phát hiện điện thoại không có trong túi.

Đầu óc Hoàng, 28 tuổi, trưởng nhóm kinh doanh tại một công ty công nghệ ở Hà Nội, lập tức tính toán còn 30 phút nữa đến giờ họp, quay về nhà mất 30 phút, chạy thêm từng đó thời gian mới tới nơi. Muộn chắc chắn, nhưng anh vẫn quyết định bẻ lái.

"Không có điện thoại thì gặp khách để làm gì", anh tự nhủ. Suốt 30 phút phóng ngược về nhà, đầu Hoàng không ngừng tưởng tượng tình huống sếp nhắn tin hỏi tiến độ không ai trả lời, khách gọi điện xác nhận địa điểm không ai nghe máy, đối tác chờ mãi rồi bỏ về, mất hợp đồng... Nỗi lo lắng khiến người đàn ông toát mồ hôi, tim đập nhanh.

Hoàng từng bỏ bữa sáng nửa chừng để chạy lên tầng lấy máy vì chợt nhớ chưa cắm sạc, đứng ngoài thang máy đã đóng cửa, tay đang bấm điện thoại, chân không chịu bước vào. "Cảm giác không có điện thoại không sống nổi, lúc nào cũng phải kè kè bên cạnh mới yên tâm", người đàn ông tâm sự.

Linh, 19 tuổi, sinh viên Đại học Ngoại Thương, cũng sống trong một thế giới xoay quanh màn hình điện thoại. Thói quen vuốt màn hình vô thức lặp lại mỗi 2-3 phút. Tài khoản mạng xã hội của cô có hàng chục nghìn lượt theo dõi.

Tháng trước, trong chuyến tình nguyện tại một bản vùng cao mất điện và mất sóng, Linh rơi vào khủng hoảng. Đêm đầu tiên mất kết nối, cô bứt rứt, đi đi lại lại trong phòng, liên tục giơ điện thoại lên cao dò sóng. Đến ngày thứ hai, nữ sinh viên đòi bỏ đoàn bắt xe ôm ra thị trấn cách đó 20 km chỉ để có mạng đăng bài.

"Cảm giác như bị ném vào một căn phòng tối tăm, cô độc và bị cả thế giới lãng quên", Linh nói.

 Nhân vật cung cấp

Điện thoại Linh có hơn 10 ứng dụng chỉnh sửa ảnh, video và luôn trong tình trạng hết pin. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Các nhà tâm lý học gọi những gì Hoàng và Linh đang trải qua là Nomophobia, viết tắt từ cụm từ "no mobile phone phobia", tức nỗi lo âu khi không có điện thoại bên cạnh. Khảo sát của công ty bảo mật SecurEnvoy (Anh, 2012) trên 1.000 người đi làm ghi nhận 66% số người được hỏi cảm thấy lo lắng khi không có điện thoại bên cạnh. Đây là một trong những số liệu sớm nhất và được trích dẫn nhiều nhất trong lĩnh vực này. Các nghiên cứu học thuật về sau cho thấy bức tranh phức tạp hơn khi tỷ lệ và mức độ phụ thuộc nhiều vào độ tuổi, nghề nghiệp và văn hóa từng quốc gia.

Một phân tích tổng hợp (meta-analysis) năm 2023 trên 11.300 sinh viên từ 8 quốc gia, công bố trên tạp chí Healthcare Informatics Research, cho thấy tỷ lệ nomophobia ở mức trung bình chiếm 56%, mức nhẹ 24% và mức nặng 17%.

Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2024 trên 950 học sinh từ 6 trường THCS và THPT tại Huế (Đại học Sư phạm Huế) ghi nhận 99,9% học sinh có biểu hiện nomophobia ở các mức độ khác nhau, trong đó mức trung bình chiếm 63,1% và mức nặng là 23,7%. Đây là một trong số ít nghiên cứu được thực hiện trực tiếp trên học sinh Việt Nam với cỡ mẫu đủ lớn.

Tiến sĩ Cao Trần Thành Trung, Giám đốc điều hành Trung tâm Tham vấn Tâm lý Lumos, cho biết nomophobia hiện chưa được xem là một chẩn đoán rối loạn tâm thần chính thức, nhưng là một hiện tượng tâm lý nghiêm trọng, xuất hiện ngày càng nhiều trong nhóm thanh thiếu niên và người trẻ.

Về bản chất, đây là trạng thái lo âu, bất an hoặc khó chịu khi cá nhân không thể sử dụng điện thoại, dù là vì hết pin, mất sóng, để quên máy hay đơn giản là không thể liên lạc với người khác.

Điện thoại thông minh ngày nay không còn chỉ là công cụ liên lạc. Với nhiều người, đặc biệt tại đô thị Việt Nam nơi ví điện tử, ngân hàng số, định vị và làm việc từ xa đều tích hợp trên một chiếc máy, việc thiếu điện thoại đôi khi đồng nghĩa với việc mất khả năng vận hành cuộc sống bình thường. Ranh giới giữa lo âu thực dụng có cơ sở và lo âu tâm lý thuần túy vì thế trở nên mờ đi và cần được nhìn nhận riêng biệt.

Bên cạnh yếu tố thực tiễn, cơ chế tâm lý cũng đóng vai trò quan trọng. Cơ chế thông báo liên tục như lượt thích, tin nhắn, phản hồi tức thì có thể huấn luyện não bộ hình thành thói quen kiểm tra lặp lại, tìm kiếm sự "trấn an" từ màn hình điện thoại.

Khi tần suất kiểm tra trở thành phản xạ không có chủ đích, đó là dấu hiệu đáng lo ngại. Các yếu tố cá nhân như căng thẳng kéo dài, cô đơn, lo âu nền hoặc phụ thuộc vào mạng xã hội để duy trì cảm giác có giá trị bản thân cũng làm tăng nguy cơ.

Nhóm dễ tổn thương nhất thường là học sinh cuối cấp, sinh viên và người trẻ mới đi làm, đặc biệt những ai có tần suất sử dụng mạng xã hội cao, thường xuyên kiểm tra thông báo hoặc mang tâm lý FOMO (sợ bỏ lỡ thông tin)

Dấu hiệu cảnh báo hội chứng tâm lý này gồm liên tục kiểm tra điện thoại dù không có thông báo; hoảng hốt khi máy hết pin hoặc mất sóng; khó tập trung khi không có điện thoại bên cạnh; giấc ngủ bị ảnh hưởng do dùng máy vào ban đêm; cảm giác bất an, sợ bị bỏ lỡ khi không cập nhật mạng xã hội kịp thời.

"Ranh giới không nằm ở việc một người dùng điện thoại bao nhiêu giờ mỗi ngày, mà nằm ở mức độ kiểm soát", ông Trung nhấn mạnh, thêm rằng cũng cần phân biệt giữa sử dụng điện thoại vì yêu cầu công việc và phụ thuộc tâm lý.

Người bận rộn do nghề nghiệp thường dùng máy có mục đích, có thể tạm ngắt khi cần và không bị hoảng loạn khi rời xa thiết bị. Người phụ thuộc tâm lý thì ngược lại cảm thấy bất an, khó chịu hoặc mất kiểm soát ngay cả khi không có nhu cầu công việc thực sự.

Song, không nên vội kết luận một người "mắc bệnh" chỉ vì họ thấy khó chịu khi thiếu điện thoại. Vấn đề chỉ trở nên đáng lo khi tình trạng đó gây lo âu rõ rệt, làm giảm tập trung, rối loạn giấc ngủ, ảnh hưởng học tập, công việc hoặc khiến cá nhân không thể duy trì các hoạt động đời sống bình thường nếu thiếu điện thoại bên cạnh.

Theo tiến sĩ Trung, mục tiêu can thiệp không phải là "cai điện thoại" ngay lập tức, mà giúp não bộ học lại rằng việc không có điện thoại trong một khoảng thời gian ngắn vẫn an toàn và kiểm soát được. Với Hoàng, bước đầu có thể đơn giản như để máy ở phòng khác khi ăn cơm cùng gia đình, hoặc đi dạo 15 phút mà không mang theo thiết bị. Còn Linh, điều cần hơn là nhận ra rằng bản sắc và giá trị cá nhân không được đo bằng số lượt xem hay phản hồi online, chuyên gia Trung khuyên.

Thùy An

Đọc toàn bộ bài viết