
Nhiều mặt hàng bơ, sữa nhập khẩu chịu áp lực tăng giá - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Bước vào tháng 7, giá sữa tại TP.HCM chưa biến động mạnh, song chênh lệch giữa các nhóm sản phẩm và kênh bán ngày càng rõ.
Khảo sát tại siêu thị, cửa hàng sữa và hệ thống mẹ bé cho thấy sữa tươi Vinamilk, TH true Milk, Dutch Lady loại 180ml hiện phổ biến 38.000-41.000 đồng/lốc 4 hộp; sữa chua các thương hiệu lớn dao động 25.000-30.000 đồng/lốc.
Các dòng sữa bột nội địa như Dielac, Optimum Gold, GrowPLUS+, Nuti IQ loại 800-900g có giá khoảng 330.000-550.000 đồng/hộp. Trong khi đó, sữa bột nhập khẩu như Abbott Grow, Similac, Enfamil, Friso Gold, NAN, Aptamil, Meiji phổ biến 450.000-850.000 đồng/hộp, một số dòng chuyên biệt trên 1 triệu đồng.
Giá bán trên các sàn thương mại điện tử hiện thấp hơn cửa hàng 50.000-100.000 đồng nhờ mã giảm giá, hoàn xu và bán combo. Tuy nhiên, nhiều người tiêu dùng vẫn ưu tiên mua trực tiếp do lo ngại hàng giả, hàng kém chất lượng.
Các điểm bán cho biết chưa nhận thông báo tăng giá trong thời gian tới. Dù vậy, nhóm sữa bột nhập khẩu được dự báo chịu áp lực điều chỉnh sớm do ảnh hưởng từ chi phí nguyên liệu, vận chuyển, kho bãi và tỷ giá.
Từ tháng 5-2026, Vinamilk dự kiến điều chỉnh giá bán một số sản phẩm sữa tươi và sữa bột nội địa khoảng 2%-3% do chi phí nguyên vật liệu đầu vào và logistics tăng trở lại.
Nhiều mặt hàng vẫn neo giá cao. Giá xăng dầu đã giảm mạnh 37-51% so với mức đỉnh, nhưng nhiều mặt hàng như mì ăn liền, phở, thực phẩm... vẫn chưa điều chỉnh giảm, dù trước đó đồng loạt tăng theo đà leo thang của nhiên liệu.
Sức mua dần phục hồi
Thị trường bán lẻ duy trì đà tăng trưởng trong những tháng đầu năm, theo báo cáo mới công bố của MBS Research. Trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt mức tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt khoảng 6,1%, trong khi riêng doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 11,1%. Những con số này cho thấy nhu cầu mua sắm trong nước đang dần lấy lại đà tăng trưởng sau giai đoạn trầm lắng. Theo các chuyên gia, dù sức mua chưa bùng nổ, thị trường bán lẻ đang duy trì xu hướng phục hồi tích cực.
Giá nông sản:
Giá cà phê: Sáng 1-7, giảm cà phê nhân xô được giao dịch tại các vùng trọng điểm Tây Nguyên còn phổ biến trong khoảng 88.500 - 89.500 đồng/kg, giảm nhẹ so với phiên trước.
Trong đó Đắk Nông (Lâm Đồng mới) được ghi nhận là địa phương có giá cao nhất, đạt 89.500 đồng/kg. Đắk Lắk, Lâm Đồng Gia Lai cùng ở mức 88.500 - 89.200 đồng/kg.

Trồng cà phê Robusta ở Lâm Đồng - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Phiên giao dịch cuối ngày 30-6, trên sàn London, giá cà phê Robusta giảm ở tất cả các kỳ hạn. Kỳ hạn tháng 7-2026 còn 3.761 USD/tấn, giảm 56 USD/tấn; kỳ hạn tháng 9-2026 còn 3.564, giảm 63 USD/tấn.
Trái với Robusta London, giá cà phê Arabica trên sàn New York tăng ở tất cả các kỳ hạn chính. Kỳ hạn tháng 7-2026 đạt 291,10 cent/lb, tăng 4,35 cent/lb, tương đương 1,52%.
Giá hồ tiêu: Hiện giá hồ tiêu giao dịch trong nước giảm nhẹ tại các vùng trọng điểm, dao động 137.000-139.500 đồng/kg (chưa cộng zem).
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu hiện tương đối ổn định với giá tiêu đen Indonesia được giao dịch phổ biến ở mức 7.121 USD/tấn; tiêu đen Brazil loại ASTA 570 ở mức 5.900 USD/tấn; tiêu đen Malaysia tiếp tục ổn định tại 9.350 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l vẫn duy trì trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn.
Với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia ở mức 9.252 USD/tấn; tiêu trắng Malaysia và Việt Nam lần lượt là 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
Giá lúa gạo: Ghi nhận tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nhìn chung ổn định. Cụ thể, gạo nguyên liệu IR 50404 được giao dịch ở mức 8.750 - 8.850 đồng/kg, gạo nguyên liệu CL 555 duy trì trong khoảng 9.200 - 9.300 đồng/kg.
Với nhóm phụ phẩm, giá tấm thơm đi ngang ở mức 8.000 - 8.300 đồng/kg; giá cám từ 7.950 - 8.100 đồng/kg. Về mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 hiện được thu mua dao động 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 giá 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo tại các quốc gia sản xuất hàng đầu cũng đang ổn định. Cụ thể, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức phổ biến 495 - 500 USD/tấn, giá gạo Jasmine dao động từ 508 - 513 USD/tấn, gạo trắng 5% tấm đạt 412 - 417 USD/tấn. Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm được chào bán từ 480 – 484 USD/tấn.
Giá thịt heo trong xu hướng giảm
Sáng 1-7, giá heo hơi được ghi nhận tiếp đà giảm với mức giảm phổ biến 500 - 1.500 đồng/kg.
Thị trường phía Bắc ghi nhận có mức giảm mạnh nhất với 1.000 - 1.500 đồng/kg, xuống còn mức phổ biến 65.000 - 66.000 đồng/kg. Khu vực miền Trung đang ở mức 61.000-65.000 đồng/kg. Miền Nam đang ở mức 58.000 - 63.000 đồng/kg.
Tại TP.HCM, giá heo mảnh bán sỉ ở các chợ đầu mối đang phổ biến từ 72.000 - 77.000 đồng/kg. Giá thịt bán lẻ tại chợ truyền thống không nhiều biến động, phổ biến như ba rọi 145.000 đồng/kg, sườn non 168.000 đồng/kg, nạc dăm 145.000 đồng/kg, nạc vai 135.000 đồng/kg, nạc đùi 125.000 đồng/kg.








