Vì sao dầu từ Mỹ ít về Việt Nam?

10 giờ trước 17

 - Ảnh 1.

Xu hướng chiến lược của Nhà máy lọc dầu Dung Quất là đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn cung, không phụ thuộc hoàn toàn vào một nguồn duy nhất - Ảnh: TRẦN MAI

Việt Nam có hai nhà máy lọc dầu. Trong khi Nhà máy lọc dầu Bình Sơn sử dụng chủ yếu nguồn dầu thô trong nước, Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn lại chủ yếu dùng nguồn dầu thô nhập từ Kuwait vốn bị ảnh hưởng nặng từ căng thẳng ở eo biểu Hormuz.

Nhưng việc thay đổi dầu thô đầu vào không chỉ ảnh hưởng bởi các đặc tính hóa lý, thiết kế kỹ thuật mà cả các cam kết quốc tế.

Không đơn giản việc thay đổi loại dầu

Trên thị trường có hàng trăm chủng loại dầu thô khác nhau, nhưng có thể phân biệt sự khác biệt căn bản về các thông số. Chẳng hạn, độ nặng nhẹ. Dầu nhẹ (nhẹ hơn nước), có độ nhớt thấp, dễ chảy tự do ở nhiệt độ phòng, hạn chế tối đa việc phải gia nhiệt trong đường ống. Chúng dễ bay hơi và tách lọc khi chưng cất. Những yếu tố này giúp chưng cất được nhiều loại xăng dầu có giá trị như xăng máy bay, xăng ô tô...

Thứ hai là hàm lượng lưu huỳnh. Dầu được phân loại là "ngọt" khi hàm lượng lưu huỳnh dưới 0,5%. Trên mức này dầu sẽ được gọi là "chua". Dầu thô càng chua tức là có hàm lượng lưu huỳnh cao sẽ có chứa các hợp chất mang tính axit, có tính ăn mòn cao với thiết bị, cần chi phí và công nghệ lọc hóa phức tạp hơn, chi phí đắt đỏ hơn để loại bỏ lưu huỳnh.

Mỗi nhà máy lọc dầu khi xây dựng đều được "may đo" dựa trên một giả định nguyên liệu đầu vào rất nghiêm ngặt, nên không thể tùy tiện đổi các loại dầu thô đầu vào. Nhà máy lọc dầu Dung Quất (BSR) được thiết kế để chế biến dòng dầu cốt lõi của quốc gia là dầu thô ngọt, nhẹ từ mỏ Bạch Hổ cực kỳ ít lưu huỳnh.

Tuy nhiên, sản lượng dầu thô từ mỏ Bạch Hổ suy giảm. BSR đã phải nghiên cứu phân tích khoảng 67 loại dầu thô khác nhau rồi thử nghiệm, nâng dần tỉ lệ chế biến các nguồn dầu nhập khẩu từ Nga, Tây Phi, UAE, Úc... Nhưng lọc được không có nghĩa là có lời.

Chẳng hạn, một thùng dầu giá 70 USD nhưng cấu hình hóa học của nó cho phép thu hồi lên đến 70 - 80% các sản phẩm giá trị cao (như Diesel, xăng RON95, nhiên liệu bay Jet A-1) , trong khi một thùng dầu giá chỉ 65 USD nhưng sau khi chưng cất chỉ thu được dầu thô nặng, dầu magut (FO) hoặc nhựa đường - những sản phẩm có giá thị trường rất thấp. Rõ ràng, thùng dầu 70 USD dù đắt hơn nhưng lại mang về hiệu quả kinh tế lớn hơn rất nhiều.

Những điểm nghẽn với dòng dầu từ Mỹ

Với dòng dầu thô Mỹ, việc nhập khẩu về Việt Nam có nhiều điểm bất lợi. Trước hết, khoảng cách địa lý từ các cảng xuất khẩu lớn ở vịnh Mexico (như Houston hay Corpus Christi) về đến cảng biển Việt Nam khá xa, một tàu chở dầu đi từ Mỹ về mất từ 40 - 45 ngày. Trong khi nhập từ khu vực Trung Đông chỉ mất 12 - 15 ngày, nhập từ các mỏ thuộc Đông Nam Á lân cận (Malaysia, Indonesia, Brunei) chỉ mất 3 - 7 ngày.

Việc một tàu siêu trọng chở 2 triệu thùng dầu có giá trị khoảng 150 triệu USD lênh đênh trên biển suốt gần hai tháng trời làm phát sinh chi phí, lãi vay thương mại rất lớn.

Trong vòng 45 ngày tàu đi đường, cục diện địa chính trị thế giới có thể đảo chiều, giá xăng dầu thành phẩm trong nước có thể lao dốc. Để phòng vệ, doanh nghiệp phải mua các gói bảo hiểm rủi ro tài chính trên sàn tương lai với chi phí rất đắt đỏ, ăn mòn vào lợi nhuận.

Trong nhiều thời điểm, mức chênh lệch giá rẻ của dầu WTI tại Mỹ hoàn toàn bị san phẳng, thậm chí chuyển thành âm sau khi cộng thêm cước tàu biển và chi phí găm vốn. Hơn nữa, dầu đá phiến của Mỹ phần lớn thuộc nhóm dầu siêu nhẹ (Extra Light Sweet Crude).

Khi đưa dòng dầu này vào hệ thống phân xưởng chưng cất thô (CDU) của Dung Quất với tỉ lệ lớn, do đặc tính chứa quá nhiều cấu tử nhẹ, nó sẽ giải phóng ra một lượng khí gas hóa lỏng (LPG) và phân đoạn xăng (Naphta) khổng lồ, làm áp suất đỉnh tháp tăng vọt.

Để duy trì an toàn, nhà máy buộc phải hạ công suất khiến sụt giảm sản lượng dầu Diesel và Jet A-1 - hai mặt hàng chiến lược hái ra tiền của BSR. Đặc biệt, sản lượng và giá cả dầu đá phiến Mỹ lại phụ thuộc rất lớn vào tính chu kỳ của các công ty khai thác tư nhân.

Trong khi đó, các chính sách xuất khẩu thay đổi theo nhiệm kỳ tổng thống, và năng lực hạ tầng cảng biển nội địa của Mỹ. Một nhà máy lọc hóa dầu không thể vận hành theo kiểu "ăn đong": hôm nay mua được một chuyến tàu của Mỹ thì chạy, ngày mai hết hàng lại dừng để chờ.

Liệu có vượt được rào cản?

Mặc dù có nhiều rào cản khắt khe, nhưng cái nhìn của các nhà quản lý năng lượng Việt Nam đối với dầu thô Mỹ nói riêng và dầu thô thế giới nói chung không hề bảo thủ.

Xu hướng chiến lược của cả Dung Quất lẫn Nghi Sơn là đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn cung, không phụ thuộc vào bất kỳ một nguồn dầu độc quyền nào.

Việc Dung Quất liên tục thử nghiệm thành công và đưa vào chế biến thương mại các dòng dầu ngoại nhập như WTI (Mỹ), Sokol (Nga), Cooper Basin (Úc) và đặc biệt là dòng dầu Murban (UAE) - loại dầu có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn rất nhiều so với dầu Bạch Hổ truyền thống - là một bước đột phá lớn.

Nó chứng minh rằng khả năng thích ứng, linh hoạt công nghệ của các kỹ sư Việt Nam. Nhà máy hiện tại không còn bị trói chặt vào mỏ Bạch Hổ mà đã sẵn sàng chủ động "mở rộng thực đơn" khi thực sự cần.

Tuy nhiên, sẽ không dễ đưa dầu Mỹ vào Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn. Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) được xây dựng dựa trên một mô hình tài chính và chuỗi giá trị khép kín, cực kỳ chặt chẽ: Kuwait cung cấp 100% dầu thô và phía Việt Nam cam kết bao tiêu sản phẩm.

Bên cạnh đó, cấu hình công nghệ của Nghi Sơn ngay từ khi thiết kế đã được cấu tạo để "ăn" dòng dầu chua, nặng của mỏ Al-Ahmadi (Kuwait) với hệ thống các phân xưởng khử lưu huỳnh cực lớn.

Nếu Nghi Sơn thay đổi dầu đầu vào nhà máy không chỉ đối mặt với nguy cơ bị kiện tụng quốc tế trị giá hàng tỉ USD mà còn tự làm tê liệt các phân xưởng xử lý lưu huỳnh nghìn tỉ của chính mình, gây lãng phí nghiêm trọng về mặt công nghệ.

Do đó, tại Nghi Sơn, không thể thay thế bằng dầu Mỹ trong các điều kiện vận hành thương mại thông thường.

Chỉ giữ vai trò là nguồn bổ sung kỹ thuật

Bài học từ thị trường năng lượng toàn cầu trong giai đoạn 2025 - 2026 chỉ ra rằng mỗi khi khu vực Trung Đông xảy ra xung đột làm đứt gãy cung ứng, các nhà máy lọc dầu châu Á lập tức tăng cường mua dầu Mỹ như một biện pháp tự vệ khẩn cấp.

Nhưng với các nhà máy lọc dầu châu Á, dầu thô Mỹ chỉ đóng vai trò là nguồn bổ sung kỹ thuật chứ chưa bao giờ là sự thay thế hoàn toàn. Muốn thay đổi hoàn toàn một nguồn nguyên liệu nền tảng cho một quốc gia đòi hỏi cải tạo lại nền tảng công nghệ, thay đổi quy trình vận hành của hàng nghìn kỹ sư, tái cấu trúc chuỗi cung ứng hạ tầng cảng biển và đàm phán lại các thỏa thuận thương mại quốc gia.

Chi phí cho cuộc đại phẫu này chắc chắn sẽ vượt xa khoản lợi nhuận ngắn hạn thu được từ chênh lệch giá dầu.

Đọc toàn bộ bài viết