Người đưa cá chình trở lại đầm Trà Ổ

3 giờ trước 22

Gia LaiGần 30 năm bám cù lao Châu Trúc giữa đầm Trà Ổ, ông Võ Tuấn Tú thuần dưỡng thành công cá chình bông, cung cấp giống và kỹ thuật cho hàng chục hộ dân.

Khu nuôi cá chình của ông Võ Tuấn Tú, 63 tuổi, nằm trên cù lao Châu Trúc, xã Phù Mỹ Bắc. Cư dân ven đầm quen gọi ông là Bảy Tú. Trại rộng hơn 10.000 m2, gồm 4 ao đất nuôi khoảng 10.000 con cá chình bông.

Cá được nuôi 2-3 năm, đạt trọng lượng 1,5-3 kg mới xuất bán. Mỗi năm, trại cung cấp khoảng 4-5 tấn cá thương phẩm, giá 500.000-600.000 đồng mỗi kg. Ngoài ao đất, ông Tú còn đầu tư hai bể bêtông nuôi tuần hoàn, ươm hơn 6.000 con cá giống bằng công nghệ vi sinh.

Theo ông, mỗi năm trang trại cung cấp thêm 3-4 tấn cá giống, giá 800.000 đến một triệu đồng mỗi kg. Tổng doanh thu đạt hơn 5 tỷ đồng. "Để có được ngày hôm nay, tôi đã trải qua rất nhiều lần thất bại", ông nói.

 Trần Hóa

Cù lao Châu Trúc nằm giữa đầm Trà ổ - nơi ông Võ Tuấn Tú nuôi cá chình. Ảnh: Trần Hóa

Ông Tú sinh ra ở vùng Gò Bồi, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ, sớm gắn bó với nghề nuôi thủy sản. Năm 1997, khi tham gia dự án nghiên cứu cá chình bông tại đầm Trà Ổ, ông cùng các cộng sự dựng lều trên cù lao Châu Trúc để khảo sát nguồn lợi thủy sản.

Khi đó, cù lao gần như biệt lập, chưa có điện, đường sá thường sạt lở, ngập vào mùa mưa. Nhóm nghiên cứu sống trong điều kiện thiếu thốn, bám đầm nhiều năm để tìm hiểu tập tính loài cá đặc biệt này. "Càng nghiên cứu, tôi càng bị cuốn hút", ông Tú nhớ lại.

Đầm Trà Ổ rộng khoảng 1.200 ha, là nơi giao thoa giữa nguồn nước ngọt và nước mặn, nổi tiếng với nhiều loài thủy sản chất lượng cao. Trước thập niên 1980, cá chình xuất hiện nhiều trong đầm. Tuy nhiên, sau khi hệ thống ngăn mặn được xây dựng để giữ phù sa, môi trường sinh thái thay đổi. Cùng với tình trạng đánh bắt tận diệt, nguồn cá chình suy giảm mạnh, dần vắng bóng trong đầm.

Nhiều chương trình phục hồi được triển khai nhưng không đạt kết quả như mong muốn. Theo ông Tú, cá chình rất khó nuôi, đòi hỏi nguồn nước sạch, thức ăn tươi, môi trường sống ổn định và đặc biệt sợ ánh sáng. Năm 2000, khi dự án nghiên cứu kết thúc, ông xin ở lại cù lao Châu Trúc để tiếp tục theo đuổi việc phục hồi loài cá này.

Ông tìm đến các ngư dân chuyên đánh bắt trên đầm, nhờ thu gom cá giống tự nhiên. Hễ nghe nơi nào có cá chình con, ông tìm đến mua. Nhiều lúc thiếu vốn, ông phải vay mượn hoặc mua chịu để duy trì đàn cá giống.

Những năm đầu, các ao nuôi liên tục gặp sự cố. Dịch bệnh làm cá chết hàng loạt. Hạn hán khiến nước cạn, cá suy kiệt. Mưa lũ bất ngờ làm vỡ bờ ao, cuốn trôi hàng nghìn con. Có năm ông thiệt hại hàng tỷ đồng. "Khoảng 7 năm đầu gần như chỉ thấy lỗ", ông kể.

 Trần Hóa

Ông Võ Tuấn Tú có công hồi sinh loài cá chình trên đầm Trà Ổ. Ảnh: Trần Hóa

Không bỏ cuộc, ông đi nhiều nơi học kinh nghiệm, gặp các nhà nghiên cứu, chuyên gia và người nuôi cá chình trên cả nước. Có thời gian, ông ra Hà Nội tham gia các khóa đào tạo về công nghệ vi sinh trong nuôi thủy sản.

Từ thực tế sản xuất, ông dần xây dựng quy trình nuôi phù hợp với điều kiện đầm Trà Ổ, từ chọn con giống, quản lý nguồn nước, thức ăn đến phòng bệnh và tiêu thụ sản phẩm. Bước ngoặt đến năm 2010, khi ông thuần dưỡng thành công cá chình trong ao nuôi. Ba năm sau, mô hình bắt đầu mang lại hiệu quả kinh tế.

Ngoài cá chình bông, ông còn phát triển thành công cá chình mun, chiếm khoảng 10% tổng đàn. Để chủ động nguồn giống, ông liên kết với ngư dân miền Trung thu mua cá giống tự nhiên, sau đó mở rộng hoạt động ươm giống trong bể xi măng.

Gần 20 năm qua, ông áp dụng công nghệ vi sinh để xử lý nước, kiểm soát dịch bệnh bằng các chế phẩm tạo từ nguyên liệu tự nhiên như mật mía, chuối chín và sữa chua lên men. Cách làm này giúp ổn định hệ sinh thái ao nuôi, giảm rủi ro dịch bệnh và nâng chất lượng sản phẩm.

Thức ăn của cá chình gồm khoảng 70% cá tươi xay trộn với cám công nghiệp. Mỗi ngày, cá được cho ăn một bữa vào chiều tối, phù hợp tập tính hoạt động về đêm của loài này.

Nhiều năm nay, ông Tú còn cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật cho khoảng 30 hộ dân quanh đầm Trà Ổ, góp phần mở rộng nghề nuôi cá chình tại địa phương. "Mục tiêu lớn nhất là khôi phục vùng sinh sản tự nhiên của cá chình, từng bước xây dựng đầm Trà Ổ thành trung tâm cung cấp giống cá chình của miền Trung", ông nói.

Năm 2018, ông Tú được Thủ tướng tặng bằng khen vì thành tích tiêu biểu trong lao động sản xuất giai đoạn 2013-2017, đồng thời được vinh danh là Nông dân Việt Nam xuất sắc. Hiện sản phẩm cá chình của ông đạt tiêu chuẩn VietGAP và chứng nhận OCOP 3 sao.

Gần đây, ông phối hợp với các chuyên gia thủy sản xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, hướng đến đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử.

Tiến sĩ Trần Văn Vinh, Phó chi cục trưởng Chi cục Nuôi trồng thủy sản Gia Lai, cho biết cá chình có tập tính sinh sản đặc biệt. Đến mùa sinh sản, cá di cư ra biển đẻ trứng, sau đó cá con ngược dòng trở về các đầm, phá để sinh trưởng. Đặc tính này khiến việc sản xuất giống nhân tạo đến nay vẫn gặp nhiều khó khăn.

Theo ông Vinh, việc ông Tú thuần dưỡng và nuôi thành công cá chình bông không chỉ tạo giá trị kinh tế mà còn mở ra hướng khai thác, phát triển hiệu quả nguồn lợi tự nhiên ở đầm Trà Ổ.

Tuy nhiên, cá chình vẫn giữ bản tính hoang dã, người nuôi phải quản lý chặt môi trường ao, đặc biệt không để thức ăn dư thừa gây ô nhiễm nước và phát sinh bệnh ngoài da. Đây là loài thủy sản giá trị cao, nên ngành thủy sản thường xuyên tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình nuôi để hỗ trợ người dân.

"Mô hình của ông Tú cho thấy hiệu quả rõ nét khi kiểm soát tốt nguồn nước, thức ăn và dịch bệnh. Cách làm này cần được tiếp tục phát huy, nhân rộng", ông Vinh nói.

Trần Hóa

Đọc toàn bộ bài viết