
Doanh nghiệp Việt đầu tư nông nghiệp quy mô lớn tại Campuchia. Trong ảnh: một xưởng khai thác, chế biến chuối - Ảnh: CÔNG TRUNG
Một lô sầu riêng Việt "ngược đường" sang Thái Lan khi nước này qua cao điểm thu hoạch. Một hộp sữa mang thương hiệu doanh nghiệp Việt được bán ở Phnom Penh. Một bao phân bón từ miền Tây theo xe sang vùng trồng lúa, cao su, điều ở Campuchia...
Đây là những hình ảnh cụ thể của kết nối thương mại Đông Nam Á lục địa đang diễn ra mỗi ngày, biến Campuchia, Lào, Thái Lan thành "thị trường gần" đúng nghĩa với doanh nghiệp Việt.
Đường mở, chuỗi cung ứng định hình
Các tuyến đường từ Việt Nam sang Campuchia, Lào, Thái Lan - cùng Hành lang kinh tế Đông - Tây và các cơ chế hợp tác Mekong đang tác động trực tiếp đến giá nông sản, chi phí logistics và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ở phía Nam, trục TP.HCM - Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang - Phnom Penh - Bangkok là hướng vận chuyển quan trọng của nông sản, thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng, phân bón và vật tư nông nghiệp.
Ở miền Trung, Hành lang kinh tế Đông - Tây mở thêm đường cho hàng hóa từ Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng đi sâu vào thị trường lục địa.
Điểm hấp dẫn của thị trường gần là doanh nghiệp có thể đi từng bước. Với thị trường xa, họ phải chuẩn bị đơn hàng lớn, tiêu chuẩn cao, thời gian vận chuyển dài, rủi ro tồn kho và thanh toán cao hơn. Với Campuchia, Lào, Thái Lan, doanh nghiệp có thể thử nghiệm với lô hàng nhỏ, kiểm tra phản ứng khách hàng, điều chỉnh bao bì, tìm kênh phân phối rồi mới mở rộng.
Tại Phnom Penh, hàng Việt đã có độ nhận diện ở nhóm thực phẩm chế biến, gia vị, cà phê, sữa, đồ uống, bánh kẹo.
Vinamilk với Angkor Milk là ví dụ điển hình: thay vì chỉ xuất khẩu sữa từ Việt Nam, doanh nghiệp đầu tư nhà máy, xây thương hiệu tại chỗ, phát triển hệ thống phân phối và sản phẩm phù hợp khẩu vị địa phương - biến thị trường gần thành một phần dài hạn trong không gian kinh doanh của mình.

Nguồn: BỘ NGOẠI GIAO - Dữ liệu: THANH HIỀN - Đồ họa: TUẤN ANH
Nông sản, phân bón cùng mở đường
Sầu riêng, chuối, xoài, thanh long, bưởi, cà phê, hồ tiêu, thực phẩm chế biến, sữa và phân bón Việt Nam đều có lợi thế tại thị trường Mekong.
Lợi thế đầu tiên là địa lý: từ miền Tây, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ sang Campuchia, Lào, Thái Lan, khoảng cách vận chuyển ngắn hơn nhiều so với thị trường xa. Lợi thế thứ hai là sự tương đồng về khẩu vị, tập quán tiêu dùng và mùa vụ nông nghiệp.
Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho biết từ khoảng tháng 6, sản lượng sầu riêng Thái Lan giảm mạnh trong khi Việt Nam bước vào chính vụ.
Đây là thời điểm hàng Việt có cơ hội chen chân sâu hơn vào thị trường khu vực, nhiều doanh nghiệp đã xuất ngược sầu riêng đông lạnh sang Thái Lan với khối lượng lớn. Không chỉ sầu riêng, Việt Nam cũng tăng xuất khẩu nhãn, vải, bưởi sang Thái Lan bằng đường biển.
Gần đây, do quan hệ thương mại với Thái Lan gặp khó khăn, Campuchia tăng nhập khẩu rau quả từ Việt Nam như thanh long, sầu riêng, xoài cát. Ngược lại, Việt Nam nhập sắn lát, xoài và nhiều nông sản từ Campuchia với khối lượng lớn.
Ông Nguyên nhận định: "Đông Nam Á vừa là nguồn cung, vừa là thị trường rộng lớn. Với lợi thế khoảng cách gần và nhiều phương thức vận tải, nếu tận dụng tốt, giao thương nội khối sẽ còn tăng mạnh".
Không chỉ rau quả, các ngành hàng khác cũng nhìn thấy vai trò ngày càng lớn của thị trường lân cận.
Ông Nguyễn Minh Họa - Phó chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam - cho biết mỗi năm Việt Nam nhập khoảng 1 triệu tấn điều thô, chiếm hơn 30% lượng dùng cho chế biến, trong đó nguồn cung từ Campuchia ngày càng quan trọng.
"Nguồn cung điều thô từ Campuchia đóng vai trò rất quan trọng với ngành điều Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã sang Campuchia liên kết, mở rộng vùng nguyên liệu", ông Họa nói.
Tương tự, đại diện Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam cho biết Campuchia đang là nguồn cung hồ tiêu thô lớn cho Việt Nam với sản lượng tăng đều, chất lượng cải thiện, nhiều vùng nguyên liệu giáp biên giới được doanh nghiệp hai nước liên kết phát triển.
Ở nhóm vật tư nông nghiệp, phân bón Cà Mau đang bám sâu vào thị trường gần.
Ông Văn Tiến Thanh - Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau - cho biết công ty định hướng xuất khẩu chiếm 25 - 30% tổng sản lượng, trong đó Campuchia là thị trường mục tiêu chiến lược với 7 nhà phân phối lớn đã được xây dựng, phủ các vùng trọng điểm, thị phần urê hiện trên 40%.
Câu chuyện phân bón cho thấy muốn đi xa, hàng Việt không thể chỉ bán sản phẩm - bao phân bón phải đi cùng đại lý, tư vấn kỹ thuật và giải pháp dinh dưỡng cây trồng.
Không chỉ bán hàng, phải tổ chức chuỗi
Từ chủ trương đến thực tế vẫn còn khoảng cách. Ông Trần Bảo Sơn - Tổng giám đốc Thaco Agri - cho rằng các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt, nhất là trong nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp đầu tư sang Lào, Campuchia vẫn gặp vướng ở thông quan, kiểm hóa, chi phí phát sinh và thời gian chờ tại cửa khẩu. Thủ tục cho lao động và chuyên gia cũng chưa thuận lợi.
"Các thỏa thuận hợp tác cần đi kèm chương trình hành động cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp. Nếu rào cản được tháo gỡ, Việt Nam sẽ có thêm lợi thế lớn trong xây dựng chuỗi cung ứng khu vực", ông Sơn nói. Thaco Agri hiện đầu tư vùng nguyên liệu quy mô lớn ở cả Lào và Campuchia, tổ chức thành chuỗi xuyên biên giới: vùng trồng, nhà máy, logistics, chế biến và thị trường gắn kết với nhau.
Trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp trong nước ngày càng hạn chế, mô hình này - đầu tư vùng nguyên liệu ở nước bạn, đưa về Việt Nam chế biến sâu rồi kết nối thị trường xuất khẩu - có thể tạo lợi thế cạnh tranh đáng kể.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và nông dân, thị trường Mekong dù gần vẫn không dễ chạm tới. Một hợp tác xã trái cây muốn bán sang Campuchia hay Thái Lan cần nhiều thứ hơn sản phẩm ngon: mã vùng trồng, quy trình sau thu hoạch, bao bì, nhãn mác, chứng từ kiểm dịch, xe lạnh, nhà phân phối, thông tin giá và phương thức thanh toán an toàn.
Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM cho rằng vẫn còn rất nhiều dư địa để tăng kết nối, song doanh nghiệp cần các chính sách hỗ trợ cụ thể hơn: trung tâm logistics nông sản gần cửa khẩu, kho lạnh dùng chung, luồng xử lý nhanh cho hàng tươi sống, hỗ trợ chứng nhận, truy xuất và tín dụng cho chuỗi lạnh.
Khi hàng Việt đi Phnom Penh, Bangkok, Vientiane thuận hơn, hàng Thái, Campuchia, Lào cũng vào Việt Nam thuận hơn. Người tiêu dùng Việt đã quen với hàng Thái từ thực phẩm chế biến, đồ uống đến trái cây - bao bì bắt mắt, chất lượng ổn định, thương hiệu rõ.
Campuchia và Lào cũng không chỉ là thị trường tiêu thụ: khi hạ tầng khu vực cải thiện, hàng từ các nước này có thể vào Việt Nam với chi phí cạnh tranh hơn. "Muốn khai thác tốt thị trường này, doanh nghiệp Việt phải thay đổi theo thị hiếu khách hàng, tăng sản phẩm chế biến, đa dạng chủng loại để không bị đụng hàng", đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu nhận xét.
Giao thương Việt Nam với thị trường lân cận
Theo Bộ Công Thương, Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia và là đối tác lớn nhất của nước này trong ASEAN. Trong năm qua, rau quả xuất sang Campuchia tăng 258,7%, cà phê tăng 251,3%. Với Lào, tổng kim ngạch hai nước đạt 3 tỉ USD, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2024.
Thái Lan là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN, hai nước hướng tới mục tiêu kim ngạch 25 tỉ USD; bốn tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch đạt 8,6 tỉ USD, tăng 25%. Với Timor-Leste, đây vẫn là thị trường nhỏ. Trong 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 4,8 triệu USD, tăng 7,3%.
Hàng giống nhau vẫn có thể bổ sung cho nhau
Ông Đặng Phúc Nguyên cho rằng nhờ các hiệp định thương mại trong khu vực, đặc biệt là Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc, xuất khẩu trái cây và nhiều hàng hóa của Việt Nam vào ASEAN và chiều ngược lại thuận lợi hơn, trong đó có lợi thế thuế quan.
Khoảng cách gần, chi phí logistics thấp hơn so với thị trường xa cũng giúp giao thương nội khối thuận lợi.
Dù các nước có nhiều mặt hàng tương đồng như xoài, nhãn, sầu riêng, thanh long, nhu cầu ẩm thực đa dạng khiến hàng hóa vẫn có thể bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, chính sự tương đồng cũng khiến cạnh tranh gay gắt hơn. Nhiều nước có xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào kỹ thuật, đặc biệt là kiểm dịch thực vật.
Với hàng chế biến, một số thị trường có đông người theo đạo Hồi còn yêu cầu chứng nhận Halal. Theo ông Nguyên, ASEAN là thị trường tiềm năng với nhu cầu tiêu dùng đa dạng và quy mô hàng trăm triệu dân, nhưng để khai thác tốt, doanh nghiệp cần được hỗ trợ đáp ứng tiêu chuẩn, vượt rào cản kỹ thuật, tiếp cận thông tin thị trường và chuyển đổi sản xuất để nâng chất lượng hàng hóa.






