Giảm gánh nặng chi phí thuốc mua ngoài
Mỗi năm, VN ghi nhận khoảng 200.000 ca ung thư mới. Chi phí điều trị mỗi ca có thể lên đến cả tỉ đồng mỗi năm, vượt xa khả năng chi trả của phần lớn gia đình. Nhiều loại thuốc mới hiệu quả cao vẫn chưa được đưa vào danh mục bảo hiểm y tế (BHYT), hoặc chỉ được thanh toán hạn chế, buộc người bệnh phải mua bên ngoài.
Để tăng cơ hội tiếp cận thuốc điều trị cho người bệnh, nhất là bệnh nhân (BN) ung thư, các chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí cho cơ sở khám chữa bệnh (KCB) được triển khai thời gian qua đang phát huy vai trò quan trọng. Theo Bộ Y tế, hơn 6.000 BN ung thư đã tham gia các chương trình này với tổng giá trị thuốc được hỗ trợ hơn 1.600 tỉ đồng. Hàng nghìn BN nhờ đó được tiếp cận thuốc mà không phải tự chi trả, góp phần kéo dài, cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm gánh nặng tài chính.
Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế), cho biết Bộ Y tế đang hoàn thiện quy định triển khai theo hướng cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình, ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận và xử lý hồ sơ, đồng thời thiết lập cơ chế điều chỉnh, bổ sung chương trình linh hoạt nhưng có kiểm soát. Mục tiêu là tạo thuận lợi cho các cơ sở kinh doanh dược và cơ sở KCB khi triển khai, song song với việc tăng cường giám sát, hậu kiểm và đánh giá hiệu quả chương trình.
"Việc thu thập, phân tích dữ liệu từ các chương trình hỗ trợ thuốc cần được thực hiện bài bản hơn, qua đó phục vụ công tác hoạch định chính sách, đặc biệt là trong việc xem xét cập nhật danh mục thuốc được quỹ BHYT thanh toán, hướng tới mục tiêu tiếp cận thuốc bền vững và công bằng cho người dân", bà Trang cho hay.

Nhiều loại thuốc đắt tiền sẽ được bổ sung vào danh mục chi trả BHYT trong thời gian tới
ẢNH: LIÊN CHÂU
Cùng với củng cố các chương trình hỗ trợ, Bộ Y tế đang hoàn thiện thông tư để bổ sung 84 thuốc mới vào danh mục BHYT chi trả, dự kiến ban hành trong năm 2026. Trong số này, nhóm thuốc ung thư chiếm tỷ lệ lớn nhất với 30 loại, tương đương 35,7% tổng số thuốc bổ sung mới. Đây chủ yếu là các thuốc phát minh thế hệ mới: thuốc điều trị đích, kháng thể đơn dòng, thuốc điều trị miễn dịch. Điều này giúp BN ung thư tiếp cận những phác đồ tiên tiến của các nước phát triển, góp phần giảm chi từ tiền túi, giảm gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và gia đình.
Ngoài ra, Bộ Y tế cũng dự kiến bổ sung 24 thuốc mới điều trị các bệnh lý mạn tính như tim mạch, tiểu đường, hô hấp, tâm thần, tiết niệu… (chiếm 29% số lượng thuốc bổ sung mới); 18 thuốc điều trị bệnh hiếm (chiếm 21,4% số lượng). Dự thảo còn sửa đổi điều kiện thanh toán và nâng tỷ lệ chi trả của 52 thuốc đã có trong danh mục - mở rộng khả năng tiếp cận và giảm thêm gánh nặng tài chính cho người bệnh.
Hiện việc thanh toán thuốc BHYT được thực hiện theo danh mục quy định tại Thông tư 20/2022, gồm 1.037 hoạt chất thuốc hóa dược và sinh phẩm, chia thành 27 nhóm lớn cùng 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu phục vụ chẩn đoán, điều trị. Tuy nhiên, phần lớn danh mục thuốc BHYT hiện nay vẫn được xây dựng trên nền tảng danh mục từ năm 2018. Trong khi đó, khoa học dược phẩm phát triển rất nhanh với nhiều thuốc phát minh mới trong điều trị ung thư, bệnh hiếm và bệnh mạn tính có hiệu quả điều trị cao nhưng chi phí lớn.
Theo lãnh đạo Vụ BHYT, dù các thuốc ung thư thường có chi phí cao, nhưng việc đưa chúng vào danh mục BHYT là cần thiết. Điều này không chỉ giúp bác sĩ có thêm lựa chọn điều trị mà còn giúp người bệnh, vốn là nhóm yếu thế với gánh nặng bệnh tật kéo dài và chi phí lớn, tăng khả năng tiếp cận, giảm chi từ tiền túi. Tuy nhiên bà Trang cũng nhấn mạnh, để đảm bảo khả năng chi trả của quỹ BHYT, những thuốc có chi phí điều trị lớn sẽ phải xem xét, đánh giá kỹ lưỡng để quyết định việc chi trả, có thể phải quy định các điều kiện thanh toán hoặc chỉ được thanh toán với một tỷ lệ nhất định. Theo đại diện Bộ Y tế, việc mở rộng danh mục thuốc, điều kiện và tỷ lệ chi trả nhằm "đảm bảo đáp ứng nhu cầu điều trị và góp phần làm giảm chi tiêu từ tiền túi của người dân cho y tế".
Giải pháp tài chính chia sẻ rủi ro
Bên cạnh việc mở rộng danh mục, các chuyên gia chính sách y tế đang đặt ra một vấn đề căn bản hơn: hệ thống chi trả hiện tại có đủ linh hoạt để theo kịp tốc độ ra đời của các thuốc mới không?
TS-BS Ong Thế Duệ (Viện Chiến lược và chính sách y tế) chỉ ra mâu thuẫn cốt lõi: các thuốc mới, đặc biệt là thuốc hiếm, thường chưa có đủ dữ liệu lâm sàng tại thời điểm được phê duyệt. Nếu chờ đủ bằng chứng mới đưa vào danh mục, người bệnh mất cơ hội tiếp cận. Nhưng nếu đưa vào ngay mà không có điều kiện kèm theo, quỹ BHYT đối mặt với rủi ro tài chính lớn. Còn nếu áp dụng cơ chế chi trả truyền thống với thuốc giá cao, kết quả thường là không bổ sung được hoặc bổ sung được nhưng tạo áp lực rất lớn lên quỹ BHYT.
Giải pháp ông Duệ đề xuất là cơ chế "chia sẻ rủi ro", cho phép đưa thuốc mới vào diện BHYT chi trả sớm hơn, trong khi rủi ro tài chính được chia sẻ giữa nhà nước và nhà sản xuất dựa trên hiệu quả thực tế của thuốc trên BN.
Ông Phạm Văn Học, Phó chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện (BV) tư nhân VN, kiến nghị cơ chế "chia sẻ rủi ro" cần được luật hóa bài bản. Theo ông, các hãng dược cần chia sẻ chi phí với BN thông qua giá thuốc, áp dụng định mức chi phí tối đa trên mỗi loại thuốc hằng năm; đồng thời có thể miễn giảm cho BN đăng ký sử dụng ở những liệu trình đầu trong giai đoạn thương mại mới để bổ sung bằng chứng lâm sàng. "Bài toán này chỉ giải được khi cân bằng được lợi ích giữa 3 bên: người bệnh, hãng dược và quỹ BHYT", ông Học nhấn mạnh.
Để giảm chi tiền túi, hệ thống y tế cũng cần giải quyết tình trạng lạm dụng chỉ định dịch vụ. Trước những lo ngại về việc áp lực "tự chủ tài chính" đẩy các BV vào việc phải tăng chỉ định xét nghiệm hoặc kéo dài ngày nằm viện, ông Học thừa nhận đây là áp lực có thật khi ngân sách cấp giảm đi, BV phải tự lo chi phí vận hành. Để hài hòa giữa doanh thu BV và quyền lợi người bệnh, ông Học đề xuất: cần tính đúng, tính đủ toàn bộ cơ cấu chi phí vào giá dịch vụ y tế; cơ quan nhà nước tăng cường hậu kiểm; và đặc biệt là chuyển đổi mô hình đánh giá (KPI) đối với bác sĩ từ việc dựa vào doanh thu sang các chỉ số KBI (key behavior indicator - Chỉ số hành vi chính) đa chiều, gồm hành vi chuẩn, sự hài lòng của người bệnh, tuân thủ chuyên môn.
Từ góc độ chuyên gia, TS Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại VN, đánh giá cao hệ thống Bảo hiểm xã hội VN đã dần chuyển dịch từ vai trò "thanh toán thụ động" sang "mua dịch vụ y tế chủ động". Việc đẩy mạnh ứng dụng hệ thống dữ liệu số đã giúp phát hiện và xử lý tốt hơn các tình trạng lạm dụng nhập viện hay xét nghiệm.
Tuy nhiên, bà Pratt cũng lưu ý những việc cần tiếp tục thực hiện trong thời gian tới, gồm: hoàn thiện hướng dẫn chuyên môn và phác đồ điều trị; cải tiến phương thức chi trả cho cơ sở y tế theo hướng khuyến khích chất lượng và hiệu suất; nâng cao năng lực giám sát và trách nhiệm giải trình trong cung ứng dịch vụ y tế. Theo bà Pratt, thông qua việc củng cố quản trị hệ thống, cơ chế tài chính, hạ tầng dữ liệu và chất lượng cung ứng dịch vụ, VN có thể tiến tới một hệ thống y tế không chỉ đảm bảo khả năng tiếp cận, mà còn bảo đảm tính phù hợp, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm. (còn tiếp)
Theo Bộ Y tế, danh mục thuốc BHYT hiện chỉ quy định tên hoạt chất, không quy định nồng độ hay hàm lượng cụ thể. Để giảm thiểu tình trạng người bệnh phải tự mua thuốc ngoài, Bộ Y tế yêu cầu các BV phải thực hiện mua sắm, đấu thầu thuốc và vật tư y tế để cung ứng kịp thời cho người bệnh. Các BV tự chủ nhóm 1 và nhóm 2 được phép tự quyết định mua sắm thuốc từ nguồn thu của BV và nguồn chi BHYT.








