Gánh nặng kinh tế từ ung thư vú

3 小时前 8

Ung thư vú không chỉ là thách thức y tế mà còn tạo ra gánh nặng kinh tế lớn, với tổn thất năng suất lao động ước tính khoảng 93.000 tỷ đồng trong một thập kỷ, theo nghiên cứu vừa công bố của Viện WifOR.

Nghiên cứu vừa công bố của Viện WifOR cho thấy ung thư vú dương tính với HER2 khiến Việt Nam thiệt hại khoảng 3,71 tỷ USD, tương đương 93.000 tỷ đồng, do suy giảm năng suất lao động trong giai đoạn 2017-2027.

Viện WifOR (WifOR Institute) là một tổ chức nghiên cứu kinh tế độc lập có trụ sở chính tại Darmstadt, Đức, được thành lập bởi các nhà kinh tế học từ Đại học Tổng hợp Darmstadt. Tổ chức này chuyên thực hiện các nghiên cứu định lượng, phân tích tác động kinh tế và xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, thị trường lao động và phát triển bền vững.

Báo cáo với sự hỗ trợ của Roche, nằm trong dự án đánh giá tác động kinh tế - xã hội của ung thư vú HER2+ và các bệnh lý võng mạc tại 11 nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương. HER2+ là một thể ung thư vú có tốc độ phát triển nhanh, do các tế bào ung thư chứa lượng lớn protein HER2 thúc đẩy khối u lan rộng.

Con số thiệt hại nói trên bắt nguồn từ 424.575 năm sống điều chỉnh theo mức độ bệnh tật (DALYs) mà người bệnh mất đi. Đây là chỉ số đo số năm sống khỏe mạnh bị bệnh tật, khuyết tật hoặc tử vong sớm lấy đi.

 Lê Nga.

Phụ nữ được khuyến cáo nên đi tầm soát ung thư vú sớm. Ảnh: Lê Nga.

Nhóm nghiên cứu cho biết tổn thất tập trung ở phụ nữ trong độ tuổi lao động, những người vừa tạo ra thu nhập, vừa chăm sóc gia đình. Khi bác sĩ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, người bệnh không chỉ chịu chi phí điều trị lớn mà còn phải nghỉ việc dài ngày hoặc mất khả năng lao động, kéo thu nhập hộ gia đình và nền kinh tế đi xuống.

Ở chiều ngược lại, báo cáo ước tính các thuốc phát minh điều trị ung thư vú HER2+ đã tạo ra khoảng 12,95 triệu USD (324 tỷ đồng) giá trị kinh tế và mang lại 827 năm sống điều chỉnh theo chất lượng (QALYs) cho người bệnh Việt Nam. Giá trị tác động xã hội từ các liệu pháp này tăng mạnh, từ 1,6 triệu USD giai đoạn 2017-2023 lên 11,3 triệu USD giai đoạn 2024-2027.

Các tác giả lưu ý hai nhóm số liệu không so sánh trực tiếp được với nhau. Con số 3,71 tỷ USD phản ánh tổng thiệt hại năng suất của toàn bộ người bệnh trong suốt vòng đời, còn 12,95 triệu USD chỉ là giá trị tạo ra trong thời gian người bệnh tiếp cận được điều trị.

Một phát hiện đáng chú ý khác, khoảng 25% tổng lợi ích kinh tế đến từ việc người bệnh duy trì các công việc không lương như nội trợ và chăm sóc gia đình. Phụ nữ đảm nhiệm phần lớn những hoạt động này, song các mô hình đánh giá kinh tế y tế truyền thống thường bỏ qua chúng, cũng như bỏ qua khả năng giúp người bệnh giữ việc làm và tiếp tục đóng góp cho xã hội.

Ông Burak Pekmezci, Tổng giám đốc Roche Pharma Việt Nam, cho rằng khi Việt Nam hướng tới tăng trưởng dài hạn, đầu tư y tế cần được xem như khoản đầu tư cho năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực. Theo ông, các quyết định tài chính y tế sẽ toàn diện hơn nếu tính đến lợi ích xã hội dài hạn thay vì chỉ dựa vào chi phí điều trị trước mắt.

Ung thư vú hiện vượt ung thư gan, trở thành loại ung thư có số ca mắc mới nhiều nhất tại Việt Nam với khoảng 25.000 ca mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ sống của người bệnh đạt hơn 90% nếu phát hiện ở giai đoạn sớm. Trước gánh nặng ngày càng lớn của các bệnh không lây nhiễm, các chuyên gia cho rằng đầu tư vào tầm soát sớm, điều trị hiệu quả và đổi mới y tế sẽ giúp giảm tổn thất kinh tế, đồng thời hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng bền vững.

Lê Nga

阅读全文