Giữ cây lúa là giữ lợi thế chiến lược của Việt Nam

1 小时前 5

Giữ cây lúa là giữ lợi thế chiến lược của Việt Nam - Ảnh 1.

Tương lai cây lúa không nằm ở năng lực sản xuất, mà ở giá trị và thu nhập của người trồng lúa - Ảnh: N.BÌNH

Từ bao đời nay, cây lúa không chỉ là một loại cây trồng, đó còn là gốc rễ của văn minh nông nghiệp Việt Nam, là nền tảng tạo nên đời sống, văn hóa và sự ổn định của đất nước này. Trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt, hình ảnh cánh đồng lúa luôn gắn với quê hương, với sự no đủ và với cả sức sống bền bỉ của dân tộc.

Tư duy "sản xuất nhiều" sang "sản xuất chất lượng"

Đi qua chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hay những giai đoạn kinh tế khó khăn, cây lúa vẫn âm thầm giữ vai trò trụ cột. Có những lúc nhiều ngành nghề lao đao, nhưng hạt gạo vẫn giúp bảo đảm an ninh lương thực và ổn định xã hội. Vì thế, nói đến “kiến tạo nông nghiệp tương lai”, sẽ là thiếu sót nếu xem nhẹ vai trò của cây lúa. Theo đó, dù quá khứ, hiện tại hay tương lai, lúa gạo vẫn là cây trồng chiến lược của nông nghiệp Việt Nam.

Trong nhiều năm, từng có những tranh luận về việc giảm diện tích lúa để chuyển sang các loại cây trồng giá trị kinh tế cao hơn. Thực tế, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một số vùng là cần thiết để thích nghi thị trường và biến đổi khí hậu. Nhưng nếu nhìn ngắn hạn và xem cây lúa chỉ là loại nông sản “lợi nhuận thấp”, chúng ta rất dễ đánh mất một lợi thế chiến lược của quốc gia. Bởi cây lúa không chỉ tạo ra hạt gạo còn tạo ra sự ổn định.

Trong bối cảnh thế giới liên tục biến động bởi xung đột, biến đổi khí hậu và nguy cơ khủng hoảng lương thực, an ninh lương thực ngày càng trở thành vấn đề sống còn của nhiều quốc gia. Một đất nước muốn phát triển bền vững trước hết phải bảo đảm được cái ăn cho người dân mình.

Việt Nam có lợi thế rất lớn khi sở hữu những vùng sản xuất lúa quy mô lớn, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long - một trong những vựa lúa quan trọng của thế giới. Đây không chỉ là lợi thế kinh tế, mà còn là “lá chắn mềm” về an ninh quốc gia trong dài hạn.

Điều đáng mừng là hạt gạo Việt Nam hôm nay đã khác rất nhiều so với trước đây. Nếu trước kia, chúng ta chủ yếu cạnh tranh bằng sản lượng và giá rẻ, thì nay gạo Việt đã từng bước khẳng định vị thế bằng chất lượng. Việt Nam đã có loại gạo đạt danh hiệu ngon nhất thế giới. Nhiều vùng sản xuất đã chuyển sang mô hình lúa sạch, hữu cơ, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ cao trong canh tác.

Người nông dân Việt Nam hôm nay cũng đang thay đổi rất nhanh. Họ không còn chỉ canh tác theo kinh nghiệm truyền thống, mà ngày càng chủ động tiếp cận khoa học kỹ thuật, sử dụng máy móc hiện đại, ứng dụng công nghệ số, tiết kiệm nước tưới, giảm phân bón hóa học và tham gia các chuỗi liên kết sản xuất. Đó là tín hiệu tích cực cho thấy nông nghiệp Việt đang chuyển từ tư duy “sản xuất nhiều” sang “sản xuất chất lượng”.

Tuy nhiên nói đến tương lai cây lúa, vấn đề lớn nhất không nằm ở năng lực sản xuất, mà ở giá trị và thu nhập của người trồng lúa. Nghịch lý lâu nay là hạt gạo Việt ngày càng nổi tiếng, xuất khẩu tăng, nhưng nhiều nông dân vẫn chưa thể sống khá bằng nghề trồng lúa. Chi phí vật tư tăng, biến đổi khí hậu khắc nghiệt hơn, trong khi đầu ra vẫn bấp bênh khiến người nông dân chịu nhiều áp lực.

Nếu muốn cây lúa tiếp tục là trụ cột của nông nghiệp Việt Nam, chúng ta không thể chỉ kêu gọi nông dân “giữ ruộng” bằng trách nhiệm hay tình cảm. Phải giúp họ sống được bằng cây lúa. Điều đó đòi hỏi một chiến lược dài hạn hơn cho ngành lúa gạo, từ quy hoạch vùng trồng, phát triển giống chất lượng cao, đầu tư thủy lợi, logistics, chế biến sâu cho đến xây dựng thương hiệu quốc gia cho gạo Việt.

Xây dựng thương hiệu gạo Việt cho toàn cầu

Giữ cây lúa là giữ lợi thế chiến lược của Việt Nam - Ảnh 2.

Ruộng lúa tôm ở Bạc Liêu - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Nhiều quốc gia bán gạo với giá cao không hẳn vì sản xuất nhiều hơn Việt Nam, mà vì họ bán được giá trị phía sau hạt gạo. Đó là gạo sạch, gạo hữu cơ, gạo phát thải thấp, gạo đạt tiêu chuẩn quốc tế và gắn với câu chuyện văn hóa riêng.

Trong khi đó, nhiều loại gạo ngon của Việt Nam vẫn chưa xây dựng được thương hiệu mạnh trên thị trường toàn cầu. Không ít doanh nghiệp còn xuất khẩu dưới nhãn hiệu nước ngoài, khiến giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.

Muốn thay đổi điều này, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “xuất khẩu gạo số lượng lớn” sang “xuất khẩu gạo giá trị cao”. Đây không chỉ là bài toán thương mại, mà còn là hướng đi của nông nghiệp xanh và phát triển bền vững.

Thạc sĩ, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Bình là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Hữu nghị Việt Nam - Thụy Điển thuộc Liên hiệp Hội hữu nghị TP.HCM, giảng viên Trường đại học Quốc tế Sài Gòn.

Một hướng đi rất đáng chú ý hiện nay là mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh thế giới ngày càng quan tâm đến tăng trưởng xanh và giảm phát thải carbon, hạt gạo “xanh” sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh lớn của Việt Nam trong tương lai. Nếu làm tốt, Việt Nam không chỉ bán gạo, mà còn bán uy tín và tiêu chuẩn của một nền nông nghiệp hiện đại.

Bên cạnh đó, cần đầu tư mạnh hơn cho hệ sinh thái hỗ trợ người nông dân. Một nền nông nghiệp hiện đại không thể để người nông dân đơn độc trên cánh đồng. Họ cần được tiếp cận dữ liệu thị trường, hỗ trợ tín dụng xanh, đào tạo kỹ năng số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Người nông dân phải được xem là trung tâm của quá trình chuyển đổi nông nghiệp chứ không chỉ là người sản xuất nguyên liệu.

Tương lai của cây lúa Việt Nam không nằm ở việc giữ nguyên cách làm cũ mà ở khả năng đổi mới để thích nghi với thời đại mới. Nhưng dù đổi mới đến đâu, cây lúa vẫn giữ vai trò nền tảng của nông nghiệp nước nhà.

Giữ cây lúa không phải là hoài niệm với quá khứ mà đó là cách Việt Nam giữ lấy một lợi thế chiến lược cho tương lai.

Giữ cây lúa là giữ lợi thế chiến lược của Việt Nam - Ảnh 3.

阅读全文