2h sáng, Minh Thư vẫn dán chặt mắt vào màn hình máy tính, dù đầu ngón tay tê dại, lưng cứng đờ, mắt cay xè, đục ngầu.
Một năm trước, phòng nội dung của một tập đoàn lớn nơi cô làm việc có 6 người, giờ còn 3. Minh kể vị quản lý nói thẳng với nhân viên: "AI đã làm được 70% việc cơ bản, các em phải làm 30% còn lại với chất lượng vượt trội, hoặc là ra đi".
Từ đó, Thư, sống ở Gia Lâm, Hà Nội, tăng ca từ 8 lên 14 tiếng mỗi ngày để chứng minh bản thân vẫn có giá trị hơn một thuật toán. "Mỗi lần sếp khen một công cụ AI mới trong nhóm chung, tôi lại tự ép mình làm nhiều hơn, nhanh hơn", cô nói.
Hoàng Long, 30 tuổi, nhân viên truyền thông tại một công ty khác, đối mặt với vấn đề khác nhưng có chung nguồn gốc. Khi công ty tích hợp AI để tạo content (nội dung), ban giám đốc lập tức rút ngắn tiến độ dự án từ hai tuần xuống còn 5 ngày với lý do "đã có AI hỗ trợ".
Để đáp ứng cái gọi là "tối ưu hóa", Long lao vào chuỗi làm 18 tiếng mỗi ngày, cùng lúc với 3-4 công cụ AI để vừa tạo văn bản, vừa thiết kế hình ảnh, đồ họa và kiểm tra dữ liệu. Giữa tháng 5, anh ngất xỉu ngay tại văn phòng do tụt huyết áp, suy nhược cơ thể, bác sĩ yêu cầu phải nghỉ phép để hồi phục sức khỏe.
Một số ứng dụng AI tạo sinh trên điện thoại Copilot, DeepSeek, Gemini, AI Hay, ChatGPT, Grok. Ảnh: Lưu Quý
Nghiên cứu công bố tháng 3/2026 trên Harvard Business Review, do nhóm chuyên gia từ Boston Consulting Group thực hiện trên 1.488 người lao động toàn thời gian tại Mỹ, lần đầu định danh hiện tượng này là "AI brain fry", tạm dịch là kiệt sức não do AI, được xác định là trạng thái mệt mỏi tinh thần do sử dụng hoặc giám sát công cụ AI vượt quá giới hạn nhận thức của cá nhân.
Theo các chuyên gia, AI brain fry không phải là bệnh lý y khoa truyền thống, mà là trạng thái kiệt sức nhận thức (cognitive exhaustion) phát sinh trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo. Nó xảy ra khi một người phải liên tục thực hiện các tác vụ "giám sát nhận thức" đối với máy móc.
Thay vì được giải phóng sức lao động, bộ não con người bị đẩy vào vai trò một"người gác cổng", phải kiểm tra tính đúng sai, rà soát lỗi "ảo giác" (hallucinations) của AI và xử lý một lượng thông tin khổng lồ được tạo ra với tốc độ nhanh gấp hàng chục lần so với tốc độ đọc hiểu tự nhiên của não bộ.
14% người tham gia khảo sát của HBR xác nhận từng trải qua trạng thái này. Những người làm marketing là nhóm chịu ảnh hưởng nặng nhất, với tỷ lệ lên đến 26%, tiếp theo là nhân sự, vận hành và kỹ thuật.
"Tôi có một công cụ giúp cân nhắc các quyết định kỹ thuật, một công cụ khác giúp soạn thảo và tóm tắt. Tôi cứ liên tục chuyển đổi giữa chúng, kiểm tra kỹ từng chi tiết nhỏ. Nhưng thay vì làm việc nhanh hơn, đầu óc tôi bắt đầu cảm thấy rối bời. Không phải mệt mỏi về thể chất mà chỉ là... quá tải", một quản lý kỹ thuật cấp cao mô tả trong nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Harvard Business Review tháng 3.
Ông Cao Trần Thành Trung tư vấn sức khỏe cho người bệnh. Ảnh: Chuyên gia cung cấp
Theo dữ liệu từ Sensor Tower, người dùng Việt Nam thực hiện trung bình 75 phiên tương tác với ứng dụng AI mỗi tháng, vượt mức trung bình toàn cầu là 50 phiên. Báo cáo kinh tế số do Google công bố đầu năm 2025 xếp Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về mức độ ứng dụng AI trong công việc hàng ngày.
"Nghịch lý ở chỗ AI được tạo ra để giảm tải, nhưng trên thực tế lại đang cộng thêm áp lực theo một cơ chế khác", ông Cao Trần Thành Trung, Giám đốc điều hành Trung tâm Tâm lý Lumos, nói.
Nghiên cứu HBR chỉ ra rằng khi nhân viên phải giám sát AI ở mức độ cao, họ tiêu tốn nhiều hơn 14% năng lượng tinh thần so với khi làm việc không có AI, đồng thời cảm thấy quá tải thông tin nhiều hơn 19%.
Khi cùng lúc phải sử dụng hơn ba công cụ AI, điểm năng suất thực sự bắt đầu giảm chứ không tăng thêm. Nói cách khác, không phải AI làm thay người, mà người đang trở thành người quản lý của AI mà không được chuẩn bị cho vai trò đó.
Đây chính là gốc rễ mà ông Trung xác định khi tiếp nhận ngày càng nhiều ca kiệt sức liên quan làn sóng tự động hóa. "Đó là một cuộc đua không cân sức", ông nói. "Vấn đề không nằm ở bản thân công nghệ, mà ở cách doanh nghiệp đang dùng nó như một cái cớ để tăng sản lượng mà không tăng nguồn lực con người".
Khi hệ thần kinh phải duy trì trạng thái cảnh giác cao trong thời gian dài mà không có khoảng nghỉ phục hồi, cơ thể mất dần khả năng quay về trạng thái bình thường. Các biểu hiện thường gặp bao gồm khó tập trung, ra quyết định chậm hơn, dễ cáu gắt, mất ngủ và tỉnh giấc giữa đêm với đầu óc vẫn xoay quanh công việc. Hiện tượng này nếu kéo dài, có thể dẫn đến trầm cảm và các bệnh tinh thần khác.
Theo chuyên gia Trung, giải pháp để tránh kiệt quệ tinh thần không nằm ở việc từ bỏ công nghệ, mà là xác lập lại ranh giới. AI nên làm các việc lặp lại (routine), còn con người cần những khoảng nghỉ hoàn toàn không có công nghệ (tech-free breaks) để phục hồi hệ thần kinh giao cảm.
Như Minh Thư cuối cùng đã phải trình bày thẳng thắn với quản lý về giới hạn của mình, đề xuất phân chia lại quy trình làm việc để tránh kiệt sức. Ngoài ra, cô cố gắng không lạm dụng AI, học cách khi nào biết tắt công cụ này để bảo vệ năng lực tư duy độc đáo của bản thân.
Thùy An







