TS Vũ Thành Tự Anh: Cải cách chỉ thành công khi doanh nghiệp bớt gánh nặng

5 小时前 17

TS Vũ Thành Tự Anh đánh giá đợt cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục của Chính phủ chưa từng có tiền lệ, nhưng ông lưu ý cải cách cần thực chất từ cấp cơ sở để tránh nguy cơ phát sinh nút thắt mới, làm khó doanh nghiệp.

Sau một tháng bộ máy mới vận hành, Chính phủ đã cắt giảm 52% điều kiện kinh doanh - điều chưa từng có tiền lệ. VnExpress phỏng vấn TS Vũ Thành Tự Anh, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright về những ưu tiên chính sách cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD) và thách thức trong điều hành của Chính phủ.

- Trong khoảng một tháng, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết cắt giảm ĐKKD. Theo ông, đợt cải cách lần này có điểm gì khác biệt so với trước?

- Có 4 điểm khác biệt lớn ở đợt cắt giảm ĐKKD lần này. Đầu tiên, cải cách diễn ra một cách đồng bộ, từ ngành nghề, giấy phép đến điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính, đồng thời gắn với chủ trương phân cấp, phân quyền. Nhờ đó, chính quyền địa phương tăng tính chủ động, đưa thẩm quyền quyết định đến gần người dân, doanh nghiệp hơn.

Cải cách lần này còn chuyển từ "phòng thủ" sang "tấn công". Trước đây, cắt giảm ĐKKD mang tính thụ động, nhằm cải thiện xếp hạng môi trường đầu tư kinh doanh. Lần này là chiến lược chủ động để giải phóng nguồn lực, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.

Các chỉ tiêu định lượng cắt giảm được đưa ra rất mạnh. Ví dụ, giảm tối thiểu 30% ngành nghề kinh doanh có điều kiện, 50% chi phí và thời gian tuân thủ, cấp bộ chỉ trực tiếp xử lý không quá 30% thủ tục thuộc lĩnh vực quản lý. Cuối cùng, Chính phủ đã đi thẳng, chỉ đích danh vào những nút thắt lâu nay như phòng cháy chữa cháy, đánh giá tác động môi trường... chứ không nêu chung chung.

Sự chuyển dịch lần này mang tính bước ngoặt, từ cắt giảm ĐKKD "đúng quy trình" sang "đúng trên thực địa", có hiệu lực trong cuộc sống. Nói cách khác, tiêu chí thành công không phải là đã ban hành bao nhiêu nghị quyết, mà doanh nghiệp có thực sự giảm được thời gian, chi phí, rủi ro hay không.

Yếu tố tạo ra quyết tâm chính trị mạnh mẽ lần này là sự kết hợp giữa ba áp lực: mục tiêu tăng trưởng rất cao, yêu cầu khơi thông nguồn lực xã hội, nhất là khu vực tư nhân, và nhu cầu củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào Chính phủ mới.

 FUV

TS Vũ Thành Tự Anh, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright. Ảnh: FUV

- Ông gọi đây là một cuộc cải cách mang tính bước ngoặt. Theo ông, đâu là những thay đổi quan trọng nhất trong tư duy quản lý?

- Điểm dịch chuyển tư duy quan trọng nhất là lần này Chính phủ không chạy theo các con số hình thức, mà đi thẳng vào giảm bớt thời gian và chi phí tuân thủ. Tức là, nhà điều hành đã chuyển từ những chỉ tiêu "dễ bị làm đẹp" sang thực chất, tác động trực tiếp đến hoạt động và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Chính phủ đang thay đổi cách tiếp cận quản lý, từ tư duy "cho - cấp phép", sang tinh thần "doanh nghiệp được quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm" nêu tại Luật Doanh nghiệp 1999, và Nhà nước chỉ quản lý bằng tiêu chuẩn, dữ liệu, hậu kiểm. Lần này Chính phủ nỗ lực hiện thực hóa những điều tuyên bố từ lâu mà chưa làm được.

- Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn đến 2030. Mục tiêu này có ý nghĩa thế nào với quyết tâm cải cách của Chính phủ, thưa ông?

- Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số tạo ra động lực chính trị ban đầu rất lớn, nhưng chỉ riêng áp lực này thôi sẽ không đủ để duy trì quá trình cải cách bền vững. Bởi lẽ, áp lực này sẽ biến thiên theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế bên ngoài và ổn định vĩ mô bên trong.

Thực tế, kỷ luật thực thi mới là yếu tố quyết định then chốt. Bản thân các nghị quyết, dù tốt đến đâu, cũng không thể tự động thay đổi được động cơ, áp lực hay chế tài với những người trực tiếp xử lý hồ sơ, đặc biệt khi chính sách được đẩy xuống cấp địa phương. Chưa kể, nguy cơ điều kiện kinh doanh có thể bị cắt giảm về hình thức ở cấp này, nhưng lại được tái tạo dưới các dạng thức khác.

Để dòng chảy cải cách không bị nghẽn, cần biến áp lực tăng trưởng thành kỷ luật thực thi thường xuyên qua đo lường chi phí thực tế của doanh nghiệp. Kết quả cải cách của từng bộ, ngành, địa phương cần được công khai và xử lý nghiêm hiện tượng cắt giảm hình thức, biến tướng.

Người dân làm thủ tục tại một Trung tâm hành chính công ở TP HCM, tháng 7/2025. Ảnh: Đình Văn

Người dân làm thủ tục tại một Trung tâm hành chính công ở TP HCM, tháng 7/2025. Ảnh: Đình Văn

- Sau khi các nghị quyết được ban hành, yếu tố nào sẽ quyết định cuộc cải cách này đi vào thực chất hay không, thưa ông?

- Về tư duy chính sách, định hướng phân cấp tối đa, đưa thẩm quyền giải quyết thủ tục từ Trung ương về địa phương là hoàn toàn đúng đắn. Việc này nhằm giảm tải cho các bộ, và tăng chủ động với địa phương.

Tuy nhiên, khảo sát của chúng tôi tại địa phương cho thấy 3 nút thắt lớn, gồm năng lực cán bộ, cơ sở hạ tầng hạn chế và tâm lý níu giữ quyền lực của cấp sở ngành. Khi áp lực dồn từ trên xuống nhưng cấp cơ sở chưa sẵn sàng, dòng chảy cải cách rất dễ bị nghẽn.

Đơn cử, khi chúng tôi khảo sát trung tâm hành chính công của một phường tại TP HCM cách đây không lâu, cán bộ ở đó phản ánh rằng họ phải vận hành cùng lúc 8 nền tảng công nghệ khác nhau do 8 bộ, ngành đưa xuống. Do các hệ thống này thiếu liên thông, nên một việc đơn giản như thống kê số hồ sơ quá hạn hoặc sắp quá hạn của từng lĩnh vực, rồi chuyển thông tin đến các công chức phụ trách theo dõi, xử lý cũng mất thời gian đáng kể. Vì thế, nếu thiết kế và thực thi không đúng, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, người dân có nguy cơ tăng do "số hóa quan liêu".

Mặt khác, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoàn toàn có thể bị thiết kế quá mức cần thiết, hoặc địa phương tự ý đưa ra yêu cầu, hồ sơ riêng. Đây chính là lý do vì sao tôi nhấn mạnh các quy trình cần được chuẩn hóa ngay từ cấp bộ, không cho phép địa phương tự ý thêm bất kỳ giấy tờ nào ngoài danh mục. Bởi sự tự phát này rất dễ dẫn đến tình trạng "phố thông, nhưng ngõ ngách lại tắc". Nếu không xử lý khéo khâu thực thi ở cơ sở, dòng chảy cải cách từ cấp bộ xuống địa phương có nguy cơ làm tăng chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, những cụm từ như "giấy xác nhận", "ý kiến chấp thuận", "văn bản phê duyệt"... có thể là biến thể của giấy phép con. Hậu kiểm bắt buộc phải có quy tắc, quy chuẩn minh bạch để khâu này không trở thành rào cản mới của doanh nghiệp.

- Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp giám sát độc lập và lập đề án chấm điểm các bộ, ngành trong cắt giảm ĐKKD. Ông đánh giá ra sao về cơ chế này?

- Việc giao quyền cho Bộ Tư pháp làm cơ quan độc lập giám sát các bộ, ngành khác chứng tỏ Chính phủ đã nhìn ra điểm nghẽn trong thực thi của giai đoạn trước. Điều này gợi nhắc kinh nghiệm thành công của những năm 2000 dưới thời Thủ tướng Phan Văn Khải, khi chúng ta có một Tổ giám sát thi hành Luật Doanh nghiệp hoạt động cực kỳ hiệu quả.

Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu áp lực giám sát chỉ dừng lại ở các cơ quan hành chính với nhau. Đo lường cải cách bằng các giải pháp thuần túy hành chính rất dễ rơi vào bẫy "làm đẹp số liệu".

TS Nguyễn Đình Cung từng kể, trước đây khi làn sóng cắt giảm giấy phép con dâng cao, các bên liên quan đã gắn ba chữ "đơn giản hóa" vào cụm "cắt giảm ĐKKD". Nghe thì rất hay, nhưng ba chữ này đã không thể hiện được tinh thần cải cách. Thay vì xóa bỏ, họ chỉ cần sửa vài chữ, giữ lại nguyên vẹn khung quản lý, tạo ra dư địa tùy nghi diễn giải ở cấp dưới. Đó chính là cửa ngõ của nhũng nhiễu, tham nhũng.

Bên cạnh đó, việc đánh giá tác động chính sách đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, điều mà một cơ quan pháp lý thuần túy như Bộ Tư pháp khó có thể bao quát toàn diện. Nguồn thông tin phản hồi xác thực nhất sẽ đến từ bản thân các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, tổ chức đại diện cho doanh nghiệp như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Để việc giám sát là thực chất, hệ thống đánh giá phải mở ra cho những bên có lợi ích liên đới trực tiếp. Bộ Tư pháp cần có cơ chế liên kết, tích hợp dữ liệu từ các thiết chế độc lập này để hoàn thiện bộ chỉ số đánh giá của mình. Nếu không có tiếng nói và sự giám sát của cộng đồng này, cải cách có thể rơi vào kịch bản cũ, đó là hoàn thành chỉ tiêu trên báo cáo, nhưng doanh nghiệp vẫn "kêu trời".

Đợt cắt giảm điều kiện kinh doanh của các bộ, ngành, địa phương tính tới 13/6. Đồ họa: Hoàng Khánh

Đợt cắt giảm điều kiện kinh doanh của các bộ, ngành, địa phương tính tới 13/6. Đồ họa: Hoàng Khánh

- Để tránh việc kết quả chỉ dừng lại trên giấy, theo ông cần thêm giải pháp căn cơ nào nhằm đưa dòng chảy cải cách đến thành công?

- Thực tế, các cách như siết KPI hay tinh giản biên chế thuần túy thường khó mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Vì vậy, bên cạnh những chỉ tiêu này, Chính phủ có thể cân nhắc một số giải pháp sau.

Thứ nhất, thu thập số liệu phải là ưu tiên hàng đầu. Cơ quan quản lý cần tổ chức khảo sát nhanh hàng tháng với các doanh nghiệp trực tiếp làm thủ tục, và tránh phụ thuộc vào số liệu báo cáo thành tích trên giấy của các đơn vị. Điều này hoàn toàn đúng với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng, là chuyển từ đúng trên giấy tờ sang đúng trong cuộc sống.

Đo lường phải bằng những số liệu rất cụ thể trên thực địa. Ví dụ, một thủ tục hành chính, thời gian người dân, doanh nghiệp phải đi lại bao lâu, mất mấy lần và tốn bao nhiêu tiền?

Thứ hai, công khai số liệu thực thi của các sở, ngành, địa phương để tạo áp lực dư luận. Khi con số được đưa ra rõ ràng, các địa phương sẽ nhìn nhau, từ đó tạo ra áp lực thi đua và giám sát lẫn nhau rất lớn.

Thứ ba, thiết lập bộ lọc tự động ngăn chặn tái diễn "giấy phép con". Phải xây dựng cơ chế kiểm tra, thanh tra đánh giá kết hợp với các biện pháp khảo sát để giám sát chặt chẽ tình trạng biến tướng của ĐKKD.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình khi phân cấp. Tức là, cấp dưới chịu trách nhiệm thực thi trực tiếp, nhưng cấp trên cần đưa ra hệ thống, biểu mẫu thống nhất và thực hiện đánh giá thống kê. Biện pháp này nhằm kiểm soát, không để các địa phương biến quyền lực được phân cấp thành sự diễn giải riêng hoặc tự ý cài cắm lợi ích cục bộ vào quy trình.

Thứ năm, cơ chế hậu kiểm phải tương ứng với mức độ rủi ro, và việc đánh giá phải dựa hoàn toàn vào dữ liệu.

Cuối cùng, tôi cho rằng nên có một tổ giám sát thực thi đủ mạnh, là sự liên kết chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp, các hiệp hội doanh nghiệp và VCCI. Đây sẽ là tổ có thực quyền vì hoạt động dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, đồng thời nắm thông tin thực tế và có động cơ cải cách mạnh mẽ nhất nhờ sự tham gia trực tiếp của cộng đồng doanh nghiệp. Thành công của giai đoạn cải cách đầu thập niên 2000 có đóng góp quan trọng từ một tổ giám sát thực quyền như vậy.

Phương Ánh

阅读全文